Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Hà Tĩnh - Nhìn từ mô hình Porter - Tác giả: Hoàng Đình Minh - Ngô Quang Trung

12/04/2016 10:48

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀ TĨNH - NHÌN TỪ MÔ HÌNH PORTER

                                                                                Hoàng Đình Minh - Ngô Quang Trung

                                                                           Học viện Chính trị khu vực I

 

Bài viết sẽ sử dụng mô hình “kim cương” của Porter để phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Hà Tĩnh. Từ đó đưa ra những đề xuất khuyến nghị những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của địa phương này.

  1. 1. Tổng quan mô hình kim cương Porter

Mô hình Kim cương Porter là một khuôn khổ lý thuyết kinh tế đa diện giúp nắm được điểm mạnh và điểm yếu của môi trường kinh doanh trong một vùng lãnh thổ. Mô hình này phân tích các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh và đánh giá xem một quốc gia hay vùng lãnh thổ có môi trường kinh doanh lành mạnh hay không.

Mô hình kim cương Porter

Hình 1: Mô hình kim cương Porter

Trong hình 1, mô hình kim cương giới thiệu bốn yếu tố chính có vai trò quan trọng giúp cho một vùng lãnh thổ nâng cao được năng suất và năng lực sáng tạo của mình. Bốn đỉnh của mô hình chịu tác động của hai yếu tố “bên ngoài” là cơ hội và Chính phủ (chính quyền địa phương).

 Thứ nhất; điều kiện đầu vào. (yếu tố thâm dụng)

Các yếu tố sản xuất bao gồm các yếu tố cơ bản như: nguồn tài nguyên, khí hậu, địa điểm, nhân lực và các yếu tố tiên tiến như: cơ sở hạ tầng thông tin, lao động có kĩ năng, phương tiện nghiên cứu và bí quyết công nghệ. Các yếu tố tiên tiến đang ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn cho lợi thế cạnh tranh. Không giống như các yếu tố cơ bản, yếu tố tiên tiến là sản phẩm của một quá trình đầu tư của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ. Vì vậy, đầu tư của chính phủ về giáo dục cơ bản, nâng cao kỹ năng làm việc, nâng cao trình độ dân trí có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh của quốc gia. Ví dụ: Singapor, Nhật, Đức là những quốc gia có đội ngũ nhân lực có kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và tính kỷ luật cao trên thế giới.

Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản và yếu tố tiên tiến là phức tạp. Yếu tố cơ bản có thể tạo ra những lợi thế cạnh tranh trong những giai đoạn đầu, nhưng theo thời gian lợi thế cạnh tranh chỉ có thể được duy trì và phát triển bằng việc đầu tư vào các yếu tố tiên tiến. Đôi khi bất lợi trong những yếu tố cơ bản có thể tạo ra áp lực để đầu tư vào các yếu tố tiên tiến (ví dụ: Nhật Bản, Singapor, Đức, Hàn Quốc…). 

Thứ hai; điều kiện cầu.

Tất cả các doanh nghiệp đều rất nhạy cảm trong việc nhận biết và đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên thị trường. Vì vậy, đặc điểm nhu cầu tại thị trường nội địa đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên các áp lực nâng cao chất lượng sản phẩm hiện tại và hình thành nên sản phẩm mới. Một công ty sẽ có lợi thế cao hơn nếu khách hàng trong nước của họ có những yêu cầu cao đối với sản phẩm. Chính những áp lực này buộc các công ty trong nước phải thường xuyên đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng các yêu cầu của thị trường nội địa. Ví dụ: Hàng hóa bán tại Nhật chất lượng cao hơn hàng hóa xuất khẩu sang một số thị trường khác.

Kết cấu cầu nội địa,được xác định thông qua việc các doanh nghiệp nhận thức, nắm rõ và đáp ứng những nhu cầu của người mua. Lợi thế cạnh tranh có thể đạt được, khi cầu nội địa mang lại cho doanh nghiệp trong nước một bức tranh tốt hơn về nhu cầu của người mua vào thời gian đầu so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Lợi thế này càng được thúc đầy, khi chính những nguời mua trong nước buộc các doanh nghiệp nội địa phải đổi mới nhanh chóng và thường xuyên.

 Quy mô và mô hình tăng trưởng cầu nội địa càng trở nên quan trọng, khi kết cấu cầu nội địa là phức tạp và phản ánh trước được nhu cầu bên ngoài. Sự tăng trưởng từ thị trường nội địa một cách nhanh chóng là một điều khuyến khích khác nữa để đầu tư và chấp nhận những công nghệ mới một cách nhanh hơn, từ đó xây dựng nên các đơn vị sản xuất có hiệu quả và quy mô lớn. Một nhu cầu nội địa mới, đặc biệt là nếu nó mô phỏng trước được nhu cầu thế giới, thì sẽ mang lại cho doanh nghiệp trong nước lợi thế nhanh hơn so với đối thủ cạnh tranh khi tham gia vào thị trường quốc tế.

Thứ ba; các ngành công nghiệp phù trợ và liên quan

Thuộc tính thứ ba tạo nên lợi thế quốc gia trong ngành công nghiệp là sự hiện diện của các nhà cung cấp, các ngành công nghiệp có liên quan trong cạnh tranh quốc tế. Lợi ích của việc đầu tư vào những yếu tố sản xuất tiên tiến ở các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ có thể ảnh hưởng tích cực đến một ngành công nghiệp xác định, giúp đạt được vị thế cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ.

Việc tiếp cận được các nhà cung ứng và doanh nghiệp có năng lực ở địa phương trong những ngành nghề liên quan rất quan trọng, nó đảm bảo sự thành công của môi trường kinh doanh vi mô. Nguồn lực sẵn có ở địa phương giúp tăng năng suất thông qua việc giảm được chi phí tìm kiếm nguồn lực tại các địa  phương khác, sự kết hợp này sẽ tăng sự phụ thuộc lẫn nhau qua đó giảm được rủi ro tư sự thiếu ổn định trong chuỗi cung ứng đầu vào và đầu ra của sản phẩm. Sự hiện diện của các cụm ngành, thay vì từng ngành công nghiệp riêng lẻ, sẽ là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo sự thành công của nền kinh tế trong vùng. 

Thứ tư; chiến lược của doanh nghiệp và sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp

Đây là điều kiện của một quốc gia mà nó quyết định cách các công ty được thành lập, được tổ chức và được quản lý và nó quyết định các đặc điểm của cạnh tranh trong nước. Tại các quốc gia khác nhau, các yếu tố như cơ cấu quản lý, đạo đức làm việc, các tác động qua lại giữa các công ty cũng được hình thành từ những sự tương tác khác biệt nhau. Điều này sẽ cung cấp những lợi thế và bất lợi thế cho những ngành công nghiệp riêng biệt.

Sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nội bộ ngành công nghiệp là cơ sở tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc tế của ngành công nghiệp. Khi cạnh tranh trong nước mạnh mẽ, sẽ thúc đẩy công ty tìm cách cải tiến quy trình họat động sản xuất kinh doanh của minh hiệu quả hơn. Điều này làm cho họ cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Ví dụ: Nhật Bản khuyến khích các hãng sản xuất ô tô trong nước cạnh tranh với nhau để tự hoàn thiện mình và có khả năng cạnh tranh với các hãng ô tô khác trên thế giới.

Từ mô hình kim cương, có thể thấy rõ ràng rằng 4 yếu tố nêu trên có mối quan hệ bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau. Nó đưa ra cách phân tích để hiểu bản chất và đo lường năng lực cạnh tranh của từng vùng. Vì thế, lý thuyết này của Michael Porter đã được vận dụng trong đánh giá xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam.

2.  Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Hà Tĩnh

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung bộ với diện tích đất tự nhiên 599.718 ha, trong đó đất nông nghiệp 476.158 ha, chiếm 79,4%, có 137 km bờ biển và 24.781 ha diện tích đất, mặt nước; dân số tỉnh Hà Tĩnh đến nay là khoảng 1.227.554 người, trong đó dân số nông thôn chiếm trên 80%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tại Hà Tĩnh tăng đều qua các năm, 2011 đạt 11,68%, 2012 đạt 13,44%, 2013 đạt 19,2%, năm 2014 đã đạt mức 25,89%, GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 24 triệu đồng, đến hết năm 2014 GDP bình quân đầu người đã đạt trên 34 triệu đồng.

Trong thời gian qua, nguồn thu ngân sách của tỉnh tăng đều qua các năm, dự kiến năm 2015 đạt khoảng 14.500 tỉ đồng. Tuy nhiên, để duy trì nguồn thu này ổn định thì cần duy trì được sức hấp dẫn của Hà Tĩnh đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của vùng có đáp ứng được các tiêu chí của các nhà đầu tư hay không.

Hiện nay, sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc của Hà Tĩnh trong thời gian qua có được là nhờ việc sử dụng những yếu tố thâm dụng để hấp dẫn nhà đầu tư. Tuy nhiên, những yếu tố thâm dụng được sử dụng chủ yếu bao gồm như: nguồn tài nguyên, khí hậu, địa điểm, nhân lực. Trong khi các yếu tố tiên tiến như: cơ sở hạ tầng thông tin, lao động có kĩ năng, phương tiện nghiên cứu và bí quyết công nghệ thì vẫn chưa được tạo dựng đầy đủ và đồng bộ.

Năng lực cạnh tranh

Hình 2: Khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương (Porter: 2008)

Các yếu tố cơ bản này thường là những lợi thế tĩnh, những lợi thế này thường chỉ phát huy hiệu quả trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư. Trong dài hạn thì các yếu tố tiên tiến hay còn gọi là lợi thế động sẽ là nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế bền vững và tạo ra năng lực cạnh tranh khác biệt của một vùng. Đối với Hà Tĩnh thì tầng thứ nhất của mức độ cạnh tranh đã được sử dụng triệt để, tầng thứ hai là mục tiêu mà địa phương phải hướng đến trong trung hạn và dài hạn. Khi cạnh tranh mang tính chất toàn cầu, thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho, sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia mà được tạo ra từ quá trình đầu tư đúng hướng và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các công ty hoạt động tại đó.

Sự thịnh vượng của địa phương phụ thuộc vào năng suất của những công ty hoạt động tại địa phương đó. Năng suất này, đến lượt mình, lại phụ thuộc vào chất lượng của môi trường kinh doanh tại địa phương. Có thể chia các yếu tố môi trường kinh doanh thành hai nhóm: các yếu tố có tính quốc gia (như kinh tế vĩ mô, luật pháp, cơ sở hạ tầng xuyên quốc gia) và các yếu tố có tính địa phương (như sự hiện hữu của một vài công ty tầm cỡ, một số kỹ năng đặc thù, các trường đại học, viện nghiên cứu, hay trung tâm dạy nghề). Có thể thấy được, khu công nghiệp Vũng Áng với công ty Formosa đang là điểm nhấn của kinh tế Hà Tĩnh. Để có thể duy trì sức hấp dẫn hơn nữa đối với các nhà đầu tư khác, Hà Tĩnh cần định hướng trong phát triển các yếu tố tiên tiến trung và dài hạn.

Thứ nhất; về nguồn nhân lực.

Nhận thức được nhân lực lành nghề sẽ là yếu tố cạnh tranh trong tương lai. Để có được nguồn nhân lực hợp lý (về chất lượng và số lượng) Hà Tĩnh cần xác định được các nhóm kiến thức mà người lao động tại địa phương sẽ cần đến trong những giai đoạn phát triển của kinh tế như: Nhóm kiến thức chuyên môn; kiến thức phục vụ quản lý trong từng giai đoạn phát triển và kiến thực cho quá trình hội nhập của địa phương với khu vực và toàn cầu hóa (ngoại ngữ, luật quốc tế), ngoài ra còn phải có kỹ năng và đạo đức làm việc của lực lượng lao động sẽ tạo thành nguồn lực chính để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Do đó, Hà Tĩnh cần có những định hướng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực  thông qua các tổ chức giáo dục trong và ngoài tỉnh.

Thứ hai; về nhân tố khoa học công nghệ.

Do xu thế thương mại trong thế kỷ XXI, sẽ được tạo ra từ việc áp dụng được những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Hà Tĩnh đã có chính sách hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp tiếp cận với khoa học công nghệ từ các nước phát triển như Isarael, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Định hướng phát triển kinh tế xanh và sạch là mục tiêu chung của tất cả các quốc gia đều hướng đến.

Thứ ba; về phát triển về cơ sở hạ tầng.

 Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống ngân hàng, hệ thống chăm sóc sức khỏe, hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc. Với nguồn thu ngân sách tăng đột biến trong thời gian qua, Hà Tĩnh đã rất chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng, việc đầu tư lớn vào hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông hiện nay sẽ là tiền đề tốt để các sản phẩm của địa phương được đưa đến các đầu mối nhập hàng nhanh chóng, đúng với quan điểm “giao thông đi trước một bước”. Ngoài ra, nó sẽ giúp trong tương lai gần Hà Tĩnh sẽ cạnh tranh được với Đã Nẵng là trung tâm Logistic của miền Trung, hàng hóa trung chuyển qua cảng Vũng Áng, Sơn Dương sang Lào, bắc Thái Lan, Myanma, sẽ tạo thêm việc làm và nguồn thu từ thuế quá cảnh cho ngân sách địa phương. Các doanh nghiệp sẽ không thể hoạt động hiệu quả nếu như cơ sở hạ tầng giao thông tắc nghẽn, điện lưới không ổn định, hay thiếu lao động có kỹ năng.

Thứ tư; về nông nghiệp công nghệ cao.

Đây có thể coi là điểm nhấn riêng biệt của Hà Tĩnh so với các vùng khác. Trong khi, tại các địa phương khác thường không coi trọng nông nghiệp, khi mà nguồn thu từ các hoạt động công nghiệp và thương mại tăng lên. Thì ngược lại, tại Hà Tĩnh, mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ khoảng 8% trong GDP của toàn tỉnh, nhưng vẫn coi nông nghiệp công nghệ cao là trọng tâm trong trung hạn và dài hạn.

Hiện nay, nguồn cung về lương thực, thực phẩm cho địa phương vẫn phải trao đổi từ các tỉnh lân cận, nên việc cần thiết hiện nay là nâng cao năng suất và chất lượng của nông nghiệp, để đáp ứng nhu cầu nội tỉnh. Với 80% dân số làm nông nghiệp, khi năng suất trong nông nghiệp tăng sẽ trực tiếp làm tăng thu nhập của bộ phận người lao động này. Điều này trong dài hạn sẽ giúp tránh được việc di dân từ những vùng nông thôn có thu nhập thấp đến các khu công nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngoài ra, khi thu nhập từ khu vực nông thôn tăng lên sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy nhân tố thứ hai trong mô hình Porter là điều kiện cầu phát triển.

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng một số nhân tố như nhân lực, kiến thức, và vốn có thể di chuyển giữa các địa phương, cho nên việc có sẵn các nhân tố này ở mỗi địa phương không phải là một lợi thế cố hữu, bất di bất dịch.

 3.     Khuyến nghị đối với Hà Tĩnh

Bốn nhóm yếu tố trong mô hình kim cương của Michael Porter phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động đến việc hình thành năng lực cạnh tranh của một vùng. Để đạt được sự thịnh vượng thì Hà Tĩnh phải vượt qua được các thách thức chỉ ra trong mô hình kim cương theo trình tự ưu tiên. Trong trung hạn và dài hạn tất cả các yếu tố của mô hình kim cương đều sẽ được xây dựng và nâng cấp. Tuy nhiên, việc giải quyết tất cả các vấn đề cùng một lúc sẽ dẫn tới việc quá dàn trải nguồn lực con người và nguồn vốn. Do đó, Hà Tĩnh phải xác định đâu là rào cản chính để nâng cao năng suất và giải quyết các rào cản đó theo hoàn cảnh cụ thể. 

Nguồn dự trữ các nhân tố đầu vào mà một địa phương có được ở một thời điểm cụ thể không quan trọng bằng tốc độ và tính hiệu quả mà địa phương đó tạo ra cũng như việc nâng cấp và sử dụng các nhân tố này trong những ngành cụ thể. Chính vì vậy, ngoài bốn đặc tính kể trên thì cần phải nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế, trong việc định hình nhu cầu và thiết lập các tiêu chuẩn cho cạnh tranh nhằm hướng đến việc cải thiện năng suất.

Hà Tĩnh cần thông qua các chính sách tác động vào cả bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau, tạo thuận lợi cho các công ty hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Đấy chính là chiến lược phát triển kinh tế dài hạn, để có thể giúp Hà Tĩnh vượt qua giai đoạn tăng trưởng kinh tế dựa vào chi phí đầu vào, mà sẽ chuyển sang được nền kinh tế lấy tính hiệu quả làm động lực và trong dài hạn sẽ lấy sáng tạo làm động lực tăng trưởng.

 Năng lực cạnh tranh

                               Hình 3: Mô hình phát triển vùng (Porter 2008)

Nhân tố quan trong thứ hai đối với Hà Tĩnh cần được hỗ trợ xây dựng và phát triển sau yếu tố thâm dụng chính là điều kiện cầu, điều kiện cầu xuất phát từ nhu cầu của thị trường nông thôn trong tỉnh, đây là khu vực cần được hỗ trợ và khuyến khích tiêu dùng. Với 80% dân số vẫn sống tại các khu vực nông thôn, thì khi thu nhập của bộ phận này được cải thiện sẽ thúc đẩy thị trường tiêu thụ hàng hóa trong tỉnh. Đồng thời nhận thức về khoa học của khối nông nghiệp tăng lên, sẽ là động lực cho khu vực công nghiệp phải thay đổi các sản phẩm của mình để đáp ứng được những yêu cầu của nông nghiệp (máy móc, con, cây giống, phân bón…). Khi phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao về cả chất lượng và số lượng của khu vực nông nghiệp. Khu vực công nghiệp sẽ phải vận động sáng tạo thông qua thay đổi công nghệ để làm ra những sản phẩm phù hợp. Điều này sẽ cải thiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại địa phương và là tiền đề hình thành nên chiến lược cạnh tranh mới của doanh nghiệp trong tỉnh đối với thị trường nội tỉnh và thị trường bên ngoài. Hà Tĩnh cũng cần thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp trong tỉnh để tận dụng được những thế mạnh của nhau và đưa ra được định hướng phát triển khoa học công nghệ cho toàn bộ địa phương. Năng lực và chất lượng của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh tại địa phương cần sự điều tiết kịp thời cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của các doanh nghiệp tại địa phương.

Như vậy, nhìn từ góc độ lý thuyết Porter “viên kim cương” và thực tiễn chính sách của Hà Tĩnh thì phần nào cũng đã thấy hướng đi đúng đắn phù hợp với sự phát triển chung của đất nước trong quá trình hội nhập.  

4. Tài liệu tham khảo:

  1. 1. Porter, M.E. (2008). On Competition. Updated and Expanded Edition. Boston: Harvard Business School Press.
  2. 2. Đỗ Đức Bình: (2013). Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Kinh tế quốc dân.
  3. 3. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến 2020.
  4. 4. Samuelson. P (2010). Kinh tế học, NXB Thống kê.
  5. 5. Ngô Kim Thanh (2011). Giáo trình Quản trị chiến lược, NXB Kinh tế quốc dân.




Share Post




Một số bài viết khác

- Một số vấn đề rút ra qua tổng kết lý luận và thực tiễn ở Hà Tĩnh - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn

- Đánh giá mô hình hợp tác xã kiểu mới của Hà Tĩnh - Nhìn từ nông nghiệp Israel - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Đánh giá kinh tế nông nghiệp Hà Tĩnh - Nhìn từ lý thuyết lợi thế so sánh - Tác giả: Ngô Quang Trung