Cải thiện môi trường cạnh tranh - Tác giả: Yamashita Hioroki

17/12/2015 14:33

CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH*

YAMASHITA HIOROKI

Theo: Thông tin Khoa học Lý luận Chính trị; số 6 bài 3


     Yamashita Hioroki là chuyên gia thường trú của Cục Quản lý cạnh tranh của Việt Nam, đồng thời là thành viên Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản. Từ tháng 4-1994 đến tháng 3-2007, ông là điều tra viên của Cục Điều tra và sau đó là Phó phòng Hợp tác quốc tế của Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản. Từ tháng 3-2007 đến tháng 6-2010 ông là Bí thư thứ hai đồng thời là Trưởng nhóm viện trợ không hoàn lại thuộc Ban Hợp tác kinh tế của Đại sứ quán Nhật Bản tại Secbia, cũng như Bộ Ngoại giao Nhật Bản. Từ tháng 6-2010 đến tháng 6-2013, ông làm việc ở Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản. Từ tháng 7-2013 đến nay, ông làm việc với tư cách là Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Cố vấn trưởng của dự án JICA về cải thiện khuôn khổ pháp luật và chính sách cạnh tranh của JICA.Viện nghiên cứu Novomoskovsk, trường Đại học Kỹ thuật hóa học Mendeleyev.

     Khái niệm môi trường cạnh tranh khá rộng. Do đó, khi đề cập đến môi trường cạnh tranh, cần phải hiểu môi trường cạnh tranh là gì? Làm sao để tạo ra được điều kiện, môi trường mà ở đó tất cả mọi người đều tham gia hoạt động kinh doanh một cách bình đẳng?

     Có rất nhiều yếu tố quyết định và tạo nên môi trường cạnh tranh như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp… Chủ đề cải thiện môi trường cạnh tranh rất rộng. Trong phạm vi bài trình bày này, tác giả chỉ đề cập đến một yếu tố quan trọng tạo ra môi trường cạnh tranh liên quan đến Luật Cạnh tranh, với nội dung chính là các hoạt động được triển khai để có thể tạo dựng một môi trường cạnh tranh hay là cải thiện, hoàn thiện môi trường cạnh tranh, cũng như các hoạt động hỗ trợ của JICA liên quan đến dự án hoàn thiện môi trường cạnh tranh ở Việt Nam.

     Bài trình bày có bốn nội dung chính: Tại sao cạnh tranh lại là cần thiết; Luật Cạnh tranh của Nhật Bản; Luật Cạnh tranh của Việt Nam; Dự án hỗ trợ truyền thông của JICA.

     1. Tại sao cần có cạnh tranh?

Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới từ năm 1986. Khi đó, Việt Nam đưa ra chính sách đổi mới, mở cửa và song song với đó là chuyển dần sang nền kinh tế thị trường. Và chính sách hiện nay của Việt Nam, nói một cách đầy đủ, là thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là về mặt chính trị, Việt Nam vẫn duy trì một đảng duy nhất, nhưng về kinh tế, sẽ chuyển sang kinh tế thị trường. Thị trường là nơi có các giao dịch về hàng hóa, sản phẩm dịch vụ. Và ở trong thị trường đó, sẽ có những người muốn bán được nhiều hàng hơn, có những người muốn làm ra những sản phẩm tốt hơn. Khi đó sẽ bắt đầu phát sinh khái niệm gọi là cạnh tranh. Vậy cạnh tranh là gì?

     Trong nền kinh tế thị trường, sẽ có các doanh nghiệp chủ động tự sản xuất ra các sản phẩm, tự định giá cho các sản phẩm của mình và bán cho người tiêu dùng. Ở một khía cạnh khác, người tiêu dùng hoàn toàn chủ động lựa chọn các sản phẩm mà họ cho là cần thiết.

     Lấy một ví dụ minh họa cho thị trường liên quan đến trò chơi trên tivi. Chẳng hạn, có hai nhà sản xuất trò chơi này trên thị trường. Một nhà sản xuất chú trọng phát triển các phần mềm trò chơi rất hấp dẫn, rất thú vị. Trong khi đó, nhà sản xuất kia lại cố gắng phát triển các hình ảnh rất hấp dẫn. Và họ cạnh tranh với nhau về sản xuất trò chơi này. Mặt khác, sẽ có các cửa hàng kinh doanh sản phẩm trò chơi này. Chẳng hạn, cửa hàng A cố gắng cạnh tranh bán sản phẩm với chi phí rẻ. Còn cửa hàng B cạnh tranh với cửa hàng A bằng cách bảo hành dài hơn… Bằng các cách thức khác nhau, các cửa hàng này đều cạnh tranh với nhau trên thị trường. Như vậy, chúng ta thấy rằng trong thị trường này tồn tại rất nhiều hình thức cạnh tranh ở các mức độ khác nhau. Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất phần mềm, cạnh tranh giữa các cửa hàng kinh doanh các sản phẩm, tức là có rất nhiều loại cạnh tranh trên một loại thị trường.

     Năm 1776, Adam Smith xuất bản cuốn sách “Về nguồn gốc của cải của các quốc gia”. Trong đó, ông nói rằng khi chúng ta theo đuổi các giá trị lợi nhuận cho bản thân mình thì cũng sẽ tạo ra các giá trị lợi nhuận mang tính công ích. Sở dĩ có điều đó là do bàn tay vô hình dẫn dắt các hoạt động này. Xin giải thích rõ hơn về điều này. Chẳng hạn, dưới góc độ cá nhân, khi chúng ta cố gắng tạo ra một giá trị cho một sản phẩm nào đó, dưới giác độ doanh nghiệp, người ta sẽ cố gắng sản xuất ra sản phẩm đó. Và để thắng được đối thủ của mình, doanh nghiệp đó luôn luôn nỗ lực, cố gắng tạo ra các sản phẩm tốt hơn, khác biệt hơn. Và như vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cố gắng tạo ra các sản phẩm mới, có chất lượng tốt hơn. Còn người tiêu dùng luôn có xu hướng lựa chọn những sản phẩm tốt, phù hợp. Như vậy, các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, hay nói cách khác là các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh thì dần dần sẽ bị loại khỏi thị trường, loại khỏi cuộc chơi. Nếu sự việc diễn ra liên tục như vậy sẽ là sự phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực cho xã hội. Và đó được hiểu là nguyên lý, nguyên tắc thị trường.

     Vậy nguyên lý thị trường đó mang lại lợi ích như thế nào cho người tiêu dùng? Xin lấy một ví dụ về một sản phẩm quen thuộc với mọi người, đó là điện thoại di động. Chiếc điện thoại di động trước đây được gọi bằng một thuật ngữ khác là điện thoại xe hơi, điện thoại ôtô. “Lịch sử” của tên gọi này bắt đầu ở Nhật Bản, cách đây khoảng hơn 20 năm (tức là vào thời kỳ chưa có điện thoại di động), mọi người đặt điện thoại trên xe ôtô của mình và gọi là điện thoại có dây trên xe ôtô. Chiếc điện thoại ôtô này rất đắt và không phải ai cũng mua được. Lúc đó, chỉ một bộ phận người dân và cảnh sát có điều kiện sở hữu chiếc điện thoại này. Xuất phát từ nguyên lý cạnh tranh, các nhà sản xuất bắt đầu cải tiến điện thoại ô tô. Vào thời kỳ đầu, nó to như một quyển sách, sau đó càng ngày càng được thu nhỏ lại, thậm chí có thể cho vào túi xách. Và như vậy, với sự cạnh tranh của các hãng điện thoại khác nhau dẫn đến sự cải tiến kỹ thuật, công nghệ của chiếc điện thoại di động. Mặt khác, người tiêu dùng luôn mong muốn những chiếc điện thoại nhỏ, gọn, nhiều tính năng… Và tất nhiên, người tiêu dùng muốn nhiều tính năng, nhỏ, gọn nhưng càng rẻ, càng tốt. Và đến bây giờ, rất nhiều người có điện thoại di động. Có một số người vì những lý do cá nhân mà không muốn sử dụng điện thoại di động, nhưng đến nay những lý do đó không đủ thuyết phục nên rất nhiều người đã phải mua điện thoại di động. Và như vậy, người tiêu dùng ở đây hoàn toàn tự do lựa chọn những sản phẩm mà họ thấy phù hợp và cần thiết. Sự lựa chọn đó của người tiêu dùng, ngược lại, sẽ là yếu tố cạnh tranh của các doanh nghiệp. Và khi sự cạnh tranh của các doanh nghiệp diễn ra liên tục như vậy thì người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi và có rất nhiều lựa chọn phù hợp với mình. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, không chỉ có người tiêu dùng mà còn có các doanh nghiệp và rất nhiều người khác nữa trong xã hội được hưởng lợi từ sự cạnh tranh. Đối với doanh nghiệp, nhờ có sự cạnh tranh thị trường mà họ có khả năng mở rộng sản xuất, quy mô hoạt động, áp dụng những công nghệ mới. Nếu họ có những ý tưởng mới thì họ hoàn toàn có thể khởi nghiệp ở các lĩnh vực kinh doanh mới. Trước đây chưa từng có công cụ tra cứu trên mạng, nhưng nay có nhiều người hay sử dụng công cụ tra cứu Google. Công ty Google không chỉ phục vụ việc tra cứu mà còn phục vụ rất nhiều mảng dịch vụ khác. Bên cạnh việc cung cấp dịch vụ tra cứu thì khi chúng ta truy cập vào một trang nào đó, họ sẽ cung cấp dịch vụ quảng bá các sản phẩm. Các doanh nghiệp có thể đưa các quảng cáo của mình lên các trang tra cứu, trang web. Và các bạn cũng biết Email của Google phải không? Và hình như đối với các chức năng của Email của Google thì tùy theo từng địa chỉ, họ có thể gửi các thông tin quảng cáo phù hợp với đối tượng đăng ký. Và như vậy, có nghĩa là kỹ thuật, công nghệ càng phát triển thì cơ hội tạo ra các lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ mới trong xã hội càng tăng. Đấy cũng chính là một trong những lợi thế, lợi ích đối với các doanh nghiệp.

     Đối với xã hội nói chung, cạnh tranh mang lại những lợi ích gì? Trước hết, chúng ta thấy rằng cạnh tranh tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn. Và khi có nhiều cơ hội việc làm như vậy, sẽ tạo ra sự năng động, sức phát triển cho nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển thì đương nhiên sẽ làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Cuộc sống tốt đẹp hơn thì chúng ta với tư cách là người tiêu dùng sẽ chi tiêu nhiều hơn, ăn uống nhiều hơn, mua sắm nhiều hơn. Khi đó, doanh thu của doanh nghiệp sẽ gia tăng và doanh nghiệp sẽ có cơ hội, có điều kiện để đầu tư, phát triển các dịch vụ mới cho người tiêu dùng. Như vậy, chúng ta thấy rằng kinh tế thị trường là một sự tuần hoàn liên tục. Đấy là những điểm tốt, những lợi ích mà nền kinh tế thị trường, kinh tế cạnh tranh có thể đem lại.

     Về thất bại của thị trường: Chúng ta đã trao đổi về kinh tế thị trường và các lợi ích mà nó mang lại. Vậy thì nó có phải là một cái gì đó hoàn hảo hay không? Thực chất không phải như vậy. Trong kinh tế thị trường cũng có khả năng tạo ra sự độc quyền trên thị trường. Nếu chúng ta nói về thị trường độc quyền ở Việt Nam hiện nay thì có thể là thị trường nào, đó là thị trường điện phải không? Như vậy, trong nền kinh tế thì trường vẫn tồn tại một thị trường trong đó có tính độc quyền.

     Khiếm khuyết thứ hai của thị trường là thông tin không hoàn hảo, không đầy đủ. Chẳng hạn, một nhà kinh doanh xe hơi cũ và khách hàng có nhu cầu mua xe. Khi khách hàng quan tâm đến một chiếc xe nào đó thì với tư cách là người bán, họ sẽ nói rất tốt về chiếc xe của họ, xe này chạy tốt, êm… để quảng bá cho chiếc xe cũ đó. Nhưng, với tư cách là người mua, nếu chưa sử dụng nó bao giờ, thì người mua không thể biết lời quảng cáo ấy có đúng hay không? Không biết cái xe này đã từng gây ra tai nạn hay chưa? Từ phía người tiêu dùng, chúng ta không có thông tin để biết về những điều này. Đó chính là sự không hoàn hảo, không đầy đủ về thông tin.

     Khiếm khuyết thứ ba là tác động ngoại biên. Ví dụ điển hình về tác động loại này là tác động của doanh nghiệp. Tác động ngoại biên ở đây là tác động phát sinh từ hoạt động chính, ngoài ý muốn từ các hoạt động của doanh nghiệp. Tác động ngoại biên có thể do một hoạt động nào đó của doanh nghiệp gây ra sự ô nhiễm về môi trường, không khí. Sự ô nhiễm này không phụ thuộc vào kinh tế phát triển hay không phát triển mà nó tác động vào đối tác với tư cách người thứ ba.

     Khiếm khuyết thứ tư là việc cung cấp các loại hàng hóa công cộng. Chẳng hạn, có các loại hàng hóa hoàn toàn không thân thiện hay ít gặp trong cuộc sống hàng ngày như các giao dịch về vũ khí. Đấy là những điều mà trong nền kinh tế thị trường chúng ta rất khó có thể kiểm soát hay nắm bắt được. Và chính vì những khiếm khuyết như vậy mới cần sự can thiệp của chính phủ.

     Câu hỏi đặt ra là tại sao độc quyền lại không tốt, tức là độc quyền đem lại điều gì bất lợi cho chúng ta? Nếu như tồn tại một thị trường độc quyền thì nó đem lại những bất lợi gì cho người dân? Những bất lợi của độc quyền có thể được giải thích như sau:

     Nếu như cạnh tranh mang lại những lợi ích cho người tiêu dùng, làm cho các doanh nghiệp thay đổi phương thức sản xuất để tạo ra hàng hóa tốt hơn và đa dạng hơn, thì độc quyền làm cho sự cạnh tranh không còn nữa, người tiêu dùng sẽ là người chịu thiệt đầu tiên, vì những ưu việt của hàng hóa sẽ mất dần tác dụng.

Độc quyền nghĩa là chỉ có một công ty và như vậy, người tiêu dùng bắt buộc phải mua sản phẩm của công ty đó mà không có sự lựa chọn nào khác. Như vậy, khi chỉ có một công ty và trên thị trường chỉ có một sản phẩm, thì mong muốn hay động lực thay đổi, cải tiến sản phẩm hầu như không có.

     Khi thị trường được gọi là thị trường độc quyền thì một doanh nghiệp có khả năng chi phối toàn bộ thị trường đó. Sức mạnh để chi phối thị trường có thể được hình thành bằng rất nhiều cách thức khác nhau. Chẳng hạn, đối với thị trường nước sạch đóng chai, ở Việt Nam chỉ có 4 hãng chuyên sản xuất nước đóng chai này. Nếu 4 hãng này trao đổi, đàm phán, thương thảo và thống nhất với nhau sẽ bán chai nước này với mức giá trên 20.000 đồng thì người tiêu dùng bắt buộc phải chấp nhận mức giá này. Việc thống nhất mức giá đồng nghĩa với việc thị trường này đã bị kiểm soát rồi.

     Một ví dụ khác là nếu như trên thị trường chỉ có một doanh nghiệp độc quyền duy nhất thì lúc đó điều gì sẽ xảy ra? Khi đó công ty độc quyền có quyền tự quyết định bất kỳ một mức giá nào mà họ muốn. Tất nhiên, nếu đưa ra một mức giá quá cao thì chắc chắn sẽ có người không mua. Tuy nhiên, doanh nghiệp này sẽ nắm giữ quyền chi phối thị trường này.

     Một ví dụ nữa, trên thị trường có hai doanh nghiệp A và B. Nếu hai doanh nghiệp này thống nhất với nhau, sáp nhập với nhau thành một thì sẽ trở thành một doanh nghiệp duy nhất và trở thành doanh nghiệp độc quyền, nắm quyền chi phối thị trường, tức là họ có quyền kiểm soát và tự định ra khối lượng sản xuất, tự quyết định giá bán. Nếu bên cạnh doanh nghiệp đó có một doanh nghiệp khá nhỏ là doanh nghiệp C. Khi doanh nghiệp A và doanh nghiệp B sáp nhập với nhau, chiếm giữ chẳng hạn tới 99% thị phần và doanh nghiệp C kia chỉ còn 1% thị phần và nếu doanh nghiệp A và doanh nghiệp B đã thống nhất mức giá bán khoảng 20.000 đồng thì doanh nghiệp C dù có định ra một mức rẻ hơn bằng 10.000 đồng thì cũng rất khó tăng sản lượng sản xuất của mình. Thậm chí doanh nghiệp A và doanh nghiệp B nếu muốn tiêu diệt doanh nghiệp C, họ sẽ sẵn sàng giảm giá xuống thấp hơn nữa để doanh nghiệp C không thể tồn tại được. Chẳng hạn, chi phí để sản xuất chai nước là 8.000 đồng, doanh nghiệp A và doanh nghiệp B có thể thống nhất giảm giá bán xuống 5.000 đồng, tức là còn dưới mức sản xuất, và duy trì giá này trong một thời gian ngắn thì doanh nghiệp C hoàn toàn thất bại. Sau đó, doanh nghiệp A và doanh nghiệp B sẽ khôi phục lại giá ban đầu. Các công ty lớn mang tính độc quyền như vậy thường có thể tự định ra giá thị trường.

     Trong điều kiện đó, cần có sự can thiệp của chính phủ, của nhà nước. Sự can thiệp của chính phủ, của nhà nước là gì và bằng cách nào? Trước hết, được thể hiện thông qua các quy định pháp luật, đặc biệt là luật cạnh tranh. Đến nay, nhiều nước có luật cạnh tranh, đặc biệt là từ những năm 1990 đến nay, khi xu hướng toàn cầu hóa tăng nhanh và nhiều nước theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa kiểu cũ chuyển sang kinh tế thị trường.

     Nhìn sang các nước ASEAN sẽ thấy đến cuối năm 2015, sẽ hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, và theo cam kết thì cả 10 nước ASEAN sẽ ban hành và thực thi luật cạnh tranh ở nước mình. Trong các nước ASEAN, Thái Lan và Inđônêxia đã ban hành và thực thi Luật Cạnh tranh vào năm 1999, ngay sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính Châu Á. Năm 2004, Xingapo ban hành Luật Cạnh tranh và năm 2005 Việt Nam cũng đã ban hành luật này. Việt Nam ban hành Luật Cạnh tranh là để bảo đảm điều kiện trở thành thành viên của WTO. Malaixia năm 2011, Miama và Philippin năm 2015 đã ban hành luật này. Hiện tại, Lào và Campuchia đang soạn thảo Luật Cạnh tranh.

     2. Luật Chống độc quyền của Nhật Bản

     Luật Cạnh tranh của Nhật Bản (tên chính xác là Luật Chống độc quyền) được ban hành từ năm 1947. Năm 1945 Nhật Bản thua trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai và khi đó Nhật Bản nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Mỹ, và Mỹ đã yêu cầu Nhật Bản sớm phát triển nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, Nhật Bản đã sớm ban hành Luật Chống độc quyền. Luật này điều chỉnh bốn hành vi cơ bản. Với việc cấm các hành vi độc quyền sẽ thúc đẩy những cạnh tranh lành mạnh. Mục tiêu của Luật này là bảo vệ và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng. Cấu trúc của Luật Chống độc quyền của Nhật Bản bao gồm ba trụ cột lớn:

     - Trụ cột đầu tiên là chống độc quyền tư nhân và chống sự ngăn cản các giao dịch thương mại một cách bất hợp lý. Các hành vi này đều làm hạn chế cạnh tranh trên thị trường.

     - Trụ cột thứ hai là cấm kinh doanh không lành mạnh, bởi vì các hành vi này cản trở các giao dịch lành mạnh trên thị trường.

     - Trụ cột thứ ba là quy định liên quan đến việc sáp nhập doanh nghiệp. Việc sáp nhập doanh nghiệp là quyền tự do của các doanh nghiệp. Nhưng, như ví dụ trình bày trên đây, nếu việc sáp nhập mà làm hạn chế hay cản trở sự cạnh tranh trên thị trường thì cũng bị cấm. Xin giải thích rõ hơn một số khái niệm. Thứ nhất, độc quyền tư nhân là gì? Chẳng hạn, có một công ty rất lớn và một công ty mới thành lập. Để loại trừ công ty mới này ra khỏi thị trường, công ty lớn có hành vi là cam kết với đối tác giao dịch với việc khấu trừ một số tiền lớn, chẳng hạn 50% nếu mua hàng của công ty này. Mục đích là làm sao để loại các đối thủ khác ra khỏi thị trường. Với cách làm như vậy, công ty lớn này đã hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp khác vào thị trường. Và khi các doanh nghiệp khác bị loại bỏ, công ty này lại nâng giá lên như bình thường. Đó là ví dụ minh họa cho khái niệm độc quyền tư nhân.

     Tiếp theo là các hành vi được gọi là cản trở thương mại một cách bất hợp lý, mà thực chất là thành lập cái gọi là các “hiệp đoàn”, hay các “tổ hợp”. Hành vi này giống như ví dụ nêu trên về doanh nghiệp A, B và C. Chẳng hạn, ba doanh nghiệp này thỏa thuận với nhau một mức giá bán sản phẩm là 40.000 yên. Khi đó, cho dù mức giá này là cao thì người tiêu dùng cũng phải chấp nhận, vì không có sự lựa chọn nào khác.

     Việc đưa ra thỏa thuận một mức giá bán của nhiều doanh nghiệp là rất khó. Nếu có một doanh nghiệp cam kết giá bán chung ở mức cao, nhưng trên thực tế, chỉ bán ở giá thấp hơn, thì doanh nghiệp ấy thu được rất nhiều lãi. Điều ấy có nghĩa là sự thỏa thuận về giá trên thị trường trong trường hợp có rất nhiều doanh nghiệp sẽ rất khó thực hiện. Nếu trên thị trường có ít doanh nghiệp, họ cũng không cần phải thỏa thuận mà tự nó sẽ xác định, định được giá trên thị trường. Trong trường hợp có ba doanh nghiệp A, B và C với thị phần tương ứng là 40%, 30% và 30%, thì doanh nghiệp A chiếm thị phần lớn nhất. Nếu doanh nghiệp này nâng giá bán lên thì doanh nghiệp B sẽ quan sát sự thay đổi giá đó và cũng tăng giá theo, thậm chí ở mức giá cao hơn doanh nghiệp A. Tương tự như vậy, doanh nghiệp C thấy các công ty khác tăng giá thì mình cũng tăng giá theo. Như vậy, với một thị trường có ít doanh nghiệp thì không cần thiết có sự thỏa thuận, các doanh nghiệp sẽ nhìn nhau và sẽ tự tăng giá lên ở mức tương đối gần nhau.

     Chẳng hạn, ở Việt Nam, có 03 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động lớn là Viettel, Mob- iFone và Vinaphone. Cách đây mấy năm đã xảy ra một vụ việc tương tự, tức là cả ba công ty đã thống nhất nâng mức giá của 3G lên. Tất nhiên là khi xảy ra sự việc đó, Cục Cạnh tranh cũng tiến hành việc thanh tra xem có chuyện thỏa thuận với nhau hay không. Tuy nhiên đã không phát hiện ra điều gì. Ví dụ vừa rồi cho thấy đối với thị trường di động ở Việt Nam, với ba công ty lớn có quy mô tương tự như nhau thì cơ cấu và mức giá cũng tương tự nhau. Vì vậy, không cần có sự thỏa thuận ở đây mà chỉ cần một công ty có hành động tăng giá thì các công ty khác cũng tăng giá. Như vậy, khi có ít người chơi ở trên thị trường thì không cần có sự thỏa thuận về giá mà vẫn có xu hướng đạt đến mức giá tương tự. Điều này cũng xảy ra với thị trường di động ở Nhật Bản. Tiếp theo là hành vi thông thầu, tức là cùng thỏa thuận trong việc đấu thầu. Đối với các công trình công ích, công trình công cộng thì việc phê duyệtdự ánbao giờ cũng phải dựa trên nguyên tắc đấu thầu, dù ở Nhật Bản hay ở Việt Nam cũng vậy. Về nguyên tắc, trong đấu thầu, đơn vị nào bỏ giá thấp nhất thì sẽ trúng thầu.

     Ở đây, xin đề cập đến một hành vi vi phạm luật đó là thông thầu, tức là trước khi bỏ thầu, các doanh nghiệp tham gia đã thỏa thuận với nhau mức giá cũng như các điều kiện liên quan. Chẳng hạn, có ba doanh nghiệp dự thầu là A, B và C. Trước khi dự thầu, các doanh nghiệp này đã có sự thống nhất với nhau là để cho doanh nghiệp C sẽ được trúng thầu nên doanh nghiệp A và doanh nghiệp B sẽ đưa ra mức giá chào thầu cao hơn mức giá của doanh nghiệp C. Cứ như vậy, giữa các công ty này sẽ có sự thỏa thuận, và năm sau sẽ cho doanh nghiệp A và doanh nghiệp B sẽ là năm kế tiếp. Nếu như hành vi này xảy ra trong quá trình đấu thầu thì thực tế giá đấu thầu sẽ cao hơn. Bởi vì, thông thường đấu thầu là việc các công ty sẽ phải cạnh tranh với nhau và cạnh tranh là phải đưa ra giá rẻ mới được trúng thầu, nhưng với sự thỏa thuận như vậy, các công ty không cần đưa ra một giá rẻ nữa mà là sự thỏa thuận ngầm giữa các bên. Hành vi thông thầu này gây ra tình trạng giá trúng thầu sẽ cao hơn rất nhiều so với giá trị thực. Điều này không chỉ gây ra sự lãng phí đối với tiền thuế của người dân mà còn là hành vi lừa dối người dân. Đây cũng là hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Chống độc quyền của Nhật Bản. Trên thực tế thực hiện Luật Chống độc quyền của Nhật Bản trước đây đã từng xảy ra rất nhiều vụ việc liên quan đến thông thầu như thế này và cho đến nay vẫn còn rất nhiều trường hợp thông thầu như vậy, và phần lớn các dự án xây dựng cầu, cảng, các dự án công trình phần lớn đều có hiện tượng thông thầu.

     Ở Việt Nam, cũng có các hiện tượng thông thầu. Tuy nhiên, cho đến nay, Cục Quản lý cạnh tranh của Bộ Công thương cũng chưa phát hiện được vụ nào.

     Tiếp theo đây là một ví dụ về quyền từ chối giao dịch, là hành vi thỏa thuận giữa rất nhiều hãng chế tạo với nhau và thống nhất chỉ có một hãng đưa sản phẩm ra thị trường. Chẳng hạn, có rất nhiều hãng chế tạo thỏa thuận với nhau là sẽ không bán những sản phẩm với giá thấp và thống nhất chỉ bán cho một đại lý. Sự thỏa thuận giữa các hãng chế tạo này đã buộc người tiêu dùng phải mua sản phẩm với giá cao. Đây là hành vi thương mại, hành vi buôn bán không lành mạnh, bị cấm theo Luật Chống độc quyền.

     Chẳng hạn, Apple thỏa thuận với Samsung là các sản phẩm của họ không bán cho các cửa hàng đại lý giá rẻ nữa. Và như vậy, nếu chúng ta muốn mua các sản phẩm của Apple và Samsung, thì chúng ta chỉ có thể mua được ở các đại lý giá cao. Tất nhiên, đó chỉ là một ví dụ.

     Nếu như việc đó xảy ra mà người tiêu dùng buộc phải mua những sản phẩm với giá cao hơn thực tiễn thì đây cũng là hành vi được gọi là kinh doanh không lành mạnh, hành vi giới hạn về mức giá bán lại. Bởi vì, thông thường bất kỳ sản phẩm nào được bán cho người tiêu dùng giá bao nhiêu thì đều do các cửa hàng bán lẻ tự quyết định giá bán. Người sản xuất không có quyền chỉ định đối với các cửa hàng bán lẻ về mức giá bán lẻ cho người tiêu dùng. Trong ví dụ vừa nêu, nhà sản xuất đưa ra chỉ thị đối với các cửa hàng bán lẻ phải bán sản phẩm của mình với mức giá cao. Những cửa hàng bán lẻ với giá thấp hơn giá hãng này đưa ra sẽ không được cung cấp sản phẩm. Đấy là một hành động bị cấm trong Luật Chống độc quyền. Tức là nhà sản xuất không được chỉ định giá bán lẻ đối với các nhà bán lẻ. Chẳng hạn, hãng Apple đưa ra sản phẩm mới là Iphone 6S, và họ yêu cầu các nhà bán lẻ phải bán nó với mức giá trên 20 triệu, thì đấy là hành vi bị cấm trong Luật Chống độc quyền, tức là nhà sản xuất không được chỉ định giá cho nhà bán lẻ. Bởi vì, việc chỉ định giá bán như vậy sẽ dẫn đến tình trạng dù khách hàng đến cửa hàng nào đi chăng nữa thì vẫn mua sản phẩm với mức giá cao. Đấy là điều cấm theo Luật Chống độc quyền của Nhật Bản. Nếu các bạn phát hiện ra những hành vi như vậy thì hãy thông báo cho Cục Quản lý cạnh tranh. Chúng tôi sẽ xử lý ngay những hành vi như vậy.

     Các biện pháp chống vi phạm.

     Khi phát hiện ra các hành vi vi phạm đối với luật chống độc quyền thì cần áp dụng các biện pháp cần thiết.

     Thông thường, đối với tất cả các hành vi bị cấm theo Luật Chống độc quyền thì hai biện pháp được áp dụng là: Yêu cầu ngừng hoạt động hoặc xử phạt bồi hoàn. Yêu cầu bồi hoàn ở đây giống như ở Việt Nam là xử phạt hành chính, tức là phạt tiền. Và nếu như hành vi đó là nghiêm trọng thì có thể áp dụng các biện pháp xử lý theo hình sự. Việc vi phạm này, ngoài các bên đương sự, có thể gây thêm thiệt hại cho bên thứ ba, chẳng hạn như người tiêu dùng thì cũng được xử lý. Chẳng hạn, bên thứ ba là người tiêu dùng thì họ có quyền kiện ra tòa, đòi bồi thường thiệt hại. Ví dụ như ở Mỹ, nước mà tòa án có vai trò rất lớn, việc khiếu kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại thường xuyên xảy ra. Đã từng có những vụ kiện yêu cầu bồi thường vài chục tỷ đôla.

     Ở Nhật Bản, hằng năm đã phát hiện ra hàng trăm vụ vi phạm Luật Chống độc quyền và đã được xử lý. Năm 2013, đã xử lý 210 vụ, có những năm khoảng 300, có những năm lên tới khoảng 500 vụ. Nếu nhìn vào các loại hành vi vi phạm thì chủ yếu liên quan đến hành vi thông thầu như vừa trình bày và mức tiền phạt cho hành vi này cũng không nhỏ. Năm 2013, với 210 vụ vi phạm được xử lý, đã thu phạt khoảng 30 tỷ yên. Các mức áp dụng xử phạt tiền, xử phạt hành chính được bắt đầu từ năm 1977. Từ những năm 2000, con số xử phạt có xu hướng gia tăng. Điều đó chứng tỏ rằng, Luật Chống độc quyền của Nhật Bản đã được thực thi một cách nghiêm khắc. Cơ quan thực thi Luật Chống độc quyền chính là Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản. Ủy ban này trực thuộc Văn phòng Nội các, ở Việt Nam là Văn phòng Thủ tướng. Vậy thì tại sao Ủy ban này lại trực thuộc Văn phòng Nội các? Đó là do yêu cầu đảm bảo tính trung lập trong các phán quyết của mình. Thực ra trước đây, cơ quan này trực thuộc Bộ Nội vụ và Truyền thông của Nhật Bản. Tuy nhiên, Bộ này chủ yếu quản lý lĩnh vực viễn thông, bưu chính, điện thoại… mà nếu Ủy ban này nằm cùng trong Bộ đó thì sẽ không đảm bảo được tính trung lập. Chính vì vậy, Ủy ban Thương mại lành mạnh đã tách ra và trực thuộc Văn phòng Nội các. Đó cũng là vấn đề của Việt Nam hiện nay, Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công thương, nhưng Bộ này lại là bộ chủ quản của các ngành công nghiệp, trong đó có điện, dầu khí và rất nhiều lĩnh vực khác nữa. Chính vì thế, trong trường hợp Cục Quản lý cạnh tranh của Bộ Công thương mà phát hiện ra những hành vi có tính vi phạm trong lĩnh vực như điện lực, khai thác dầu... thì liệu sự phán quyết của cơ quan này có mang tính trung lập hay không? Đó cũng là sự quan ngại mà chúng tôi đã từng chia sẻ.

     Về cơ cấu tổ chức, Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản có 5 thành viên. Ngoài ra, có một thành viên biệt phái đến từ Bộ, một thành viên đến từ tòa án, một thành viên đến từ viện kiểm sát, và một thành viên là nhà kinh tế học. Tất cả 5 thành viên này đều là các thành viên chuyên trách, không có kiêm nhiệm và được sự chỉ định của Thủ tướng Chính phủ và được Quốc hội phê duyệt. Việt Nam cũng có Hội đồng Cạnh tranh lành mạnh và có 11 thành viên. Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng là Thứ trưởng Bộ Công thương kiêm nhiệm, các thành viên của Hội đồng là cấp vụ trưởng của một số bộ liên quan. Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản có 8 văn phòng trên toàn quốc. Cục Quản lý cạnh tranh của Việt Nam hiện có 2 văn phòng, một ở Thành phố Hồ Chí Minh, một ở Đà Nẵng. Số lượng nhân viên của Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản bao gồm cả ban thư ký, tổ thư ký… tất cả là 800 người, bao gồm ở tất cả các địa phương.

     3. Luật cạnh tranh của Việt Nam

     Về nội dung, Luật này gần giống với Luật Chống độc quyền của Nhật Bản. Tuy nhiên, cũng cần trao đổi thêm là Luật Cạnh tranh của Việt Nam được ban hành khá vội để kịp tiến độ gia nhập WTO và hiện tại cũng đang gặp một số khó khăn trong vấn đề thực thi một số điều của Luật này.

     Luật Cạnh tranh của Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2004 và chính thức có hiệu lực vào tháng 7-2005. Trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam, có quy định về 3 hành vi vi phạm: Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi hạn chế cạnh tranh và các hành vi cản trở cạnh tranh của cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt là hành vi thứ ba, hành vi chống lại cạnh tranh của cơ quan quản lý nhà nước - đây là điều khoản quy định có tính đặc thù riêng của Việt Nam. Chúng ta nên lưu ý vấn đề này. Chẳng hạn, khi áp dụng các ưu đãi đối với một số doanh nghiệp đặc biệt thì đó chính là hành vi cản trở sự cạnh tranh tự do trên thị trường, đồng thời cũng là một trong những hành vi bị cấm theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam. Cách đây khoảng 1 năm, ở một địa phương của Việt Nam, đã ban hành chỉ thị cho một ngân hàng là tất cả tiền lương của nhân viên phải được chuyển khoản vào ngân hàng này. Đây là hành vi có biểu hiện của hành vi vi phạm thứ ba theo luật của Việt Nam và Cục Quản lý cạnh tranh đã có cảnh báo đối với địa phương đó và cuối cùng quyết định đó đã bị hủy bỏ.

     Đối tượng của Luật Cạnh tranh Việt Nam được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. Và Luật cũng không chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp mà các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội thương mại cũng là đối tượng điều chỉnh của Luật này. Tại sao ở đây lại có quy định điều chỉnh các hiệp hội thương mại, ngành nghề? Thực ra, các hiệp hội thương mại, ngành nghề là tập hợp của các doanh nghiệp cùng một ngành nghề với nhau. Vậy thì khi các hiệp hội họp với nhau, họ thảo luận vấn đề gì? Ở đây có nhiều khả năng họ sẽ thảo luận vấn đề về tăng giá, hoặc có những thỏa thuận trong lĩnh vực đó, ngành nghề đó. Vì vậy, đây cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh, đối tượng giám sát theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam.

     Hiện nay, cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh của Việt Nam là Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh Việt Nam, trực thuộc Bộ Công thương. Giữa hai cơ quan này có sự phân công về chức năng, quyền hạn rất rõ ràng. Chẳng hạn, Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan ra quyết định, tiến hành điều tra đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hội đồng Cạnh tranh Việt Nam là cơ quan ra quyết định đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh. Cần nhắc lại là đối với các vụ việc, hành vi mang tính hạn chế cạnh tranh, việc điều tra do Cục Quản lý cạnh tranh thực hiện, trên cơ sở đó, Hội đồng Cạnh tranh sẽ ra phán quyết cuối cùng và áp dụng biện pháp cụ thể.

     Hội đồng Cạnh tranh Việt Nam bao gồm 11 đến 15 thành viên. Vấn đề đặt ra là về các thành viên của Hội đồng này, Chủ tịch do Thứ trưởng Bộ Công thương và các thành viên khác ở cấp vụ được cử đến từ các bộ, ngành khác có liên quan. Các cán bộ đến từ bộ, ngành khác lại không nắm rõ, hiểu rõ về Luật Cạnh tranh và họ hoạt động với hình thức kiêm nhiệm nên việc ra quyết định là một quá trình phức tạp và khó khăn.

     Số liệu thống kê liên quan đến các hoạt động điều tra đối với hành vi cản trở cạnh tranh ở Việt Nam cho thấy việc tiến hành điều tra sơ bộ được thực hiện khá nhiều nhưng ra quyết định thì chỉ có 02 vụ việc, tổng cộng từ trước đến nay mới chỉ có 8 vụ việc ra được quyết định nhưng quyết định vi phạm thì chỉ có 2 vụ việc, tức là trong 10 năm chỉ có 2 vụ việc vi phạm.

     Về kiểm soát các giao dịch sáp nhập và mua lại. Những năm gần đây, con số kiểm soát được các giao dịch loại này có gia tăng. Hoạt động điều tra, ra quyết định được thực hiện tương đối thuận lợi, lý do là vì các hành vi vi phạm loại này không cần phải đưa ra Hội đồng mà Cục Quản lý cạnh tranh có quyền ra quyết định, xử lý. Vì thế mà việc xử phạt được nhiều hơn và thuận lợi hơn. Trên thực tế, số liệu điều tra khoảng 100 doanh nghiệp cho thấy số tiền xử phạt do vi phạm là 10 tỷ đồng. Vụ việc tiến hành điều tra có xu hướng tăng lên nhưng các vụ việc đưa ra để ra quyết định cuối cùng thì không nhiều. Đây là nhược điểm của quá trình xử lý. Xin giới thiệu thêm về một vụ việc đã được xử lý. Vụ việc này liên quan đến công ty chuyên cung cấp nhiên liệu cho máy bay - Công ty Vinapco - công ty con của Vietnam Airlines. Vụ việc bắt đầu được điều tra từ năm 2008. Vietnam Airlines là công ty hàng không lớn của Việt Nam, khi đó bên cạnh Vietnam Air- lines còn có hãng hàng không khác là Jetstar Pacific - hãng hàng không giá rẻ. Do chỉ có một công ty cung cấp nhiên liệu cho máy bay nên Jetstar Pacific buộc phải mua nhiên liệu của công ty này. Vào tháng 3-2008, Công ty Vinapco gửi thông báo cho Jetstar Pacific về việc tăng giá nhiên liệu. Khi nhận được thông báo, Jetstar Pacific đề nghị không tăng giá mà ngồi lại thỏa thuận. Khi Jetstar Pacific yêu cầu có thương lượng, đàm phán đến tháng 4-2008, Vinapco tự ý đơn phương dừng cung cấp nhiên liệu cho Jetstar Pacific và chính vì vậy đã dẫn tới việc hãng Jetstar Pacific phải hủy bỏ nhiều chuyến bay của mình. Mặc dù Jetstar Pacific thường hay trễ, bỏ chuyến, nhưng trong năm 2008, vì lý do không được cung cấp nhiên liệu mà nhiều chuyến bay đã bị hủy, bị hoãn lại.

     Sau vụ việc này, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra và đi đến kết luận là Vinapco đã lợi dụng vị thế độc quyền của mình để có những hành vi như vậy và ra quyết định xử phạt hành chính khoảng 3 tỷ đồng.

     Một ví dụ nữa liên quan đến thỏa thuận về mức phí bảo hiểm xe ô tô. Vào tháng 9-2008, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã ký thỏa thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ về việc nâng mức phí đối với bảo hiểm xe hơi. Thời gian đầu, có 15 công ty ký, sau đó có thêm 4 công ty, tổng cộng có 19 công ty. Tại thời điểm đó, ở Việt Nam có 25 công ty bảo hiểm nhân thọ có cung cấp dịch vụ bảo hiểm này. Như vậy, có 19/25 công ty đã ký thỏa thuận về mức phí này. Chúng tôi đã có được văn bản ký thỏa thuận giữa 19 doanh nghiệp, là chứng cứ minh chứng cho hành vi vi phạm này. Ở Nhật Bản, ít khi có trường hợp cá nhân ký vào thỏa thuận về mức giá như thế này, kể cả có thỏa thuận về giá cũng không bao giờ làm bản thỏa thuận ký giấy trắng mực đen, vì như thế chính là bằng chứng minh chứng cho hành vi vi phạm của mình. Việc ký kết biên bản thỏa thuận giữa các doanh nghiệp kiểu này thể hiện là họ chưa hiểu biết quy định của Luật Cạnh tranh. Cuối cùng, hành vi này bị xử phạt theo Luật Cạnh tranh theo mục các hành vi có yếu tố hạn chế cạnh tranh trên thị trường và mức xử phạt hành chính lúc đó đưa ra là 1,7 tỷ đồng.

     4. Về dự án hỗ trợ kỹ thuật của JICA

     Dự án hợp tác kỹ thuật của JICA thực hiện từ năm 2008 đến nay được chia thành 2 dự án và tiểu dự án. Dự án đầu tiên nhằm nâng cao năng lực thực thi luật cho Cục Quản lý cạnh tranh. Dự án thứ hai nhằm mục đích sửa đổi lại Luật Cạnh tranh.

     Dự án thứ 2 thực hiện từ năm 2012 đến năm 2015, gồm 3 nội dung chính: Rà soát lại các quy định và sửa đổi luật, nâng cao năng lực điều tra cho các cán bộ Cục Quản lý cạnh tranh, hỗ trợ tuyên truyền phổ biến về Luật Cạnh tranh. Ba nội dung này được hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn bởi chuyên gia của Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản. Ngài Yamashita là người trực tiếp hỗ trợ cho việc triển khai dự án này. Dự án này đã triển khai hoạt động như thế nào?

     Thứ nhất, vào tháng 10-2012, JICA hoàn thành báo cáo tổng quan về Luật Cạnh tranh. Báo cáo này chủ yếu đề cập tới các vấn đề tồn tại trong quá trình thực thi của Luật Cạnh tranh Việt Nam cũng như phương hướng sửa đổi Luật này. Đến tháng 6-2013, chúng tôi đưa ra báo cáo khảo sát 500 doanh nghiệp liên quan đến Luật Cạnh tranh, thông qua phiếu hỏi về mức độ hiểu biết, mức độ nhận thức của họ liên quan đến Luật Cạnh tranh. Điều thú vị là, trong 500 doanh nghiệp điều tra, chỉ có 8 doanh nghiệp trả lời có biết, biết sơ sơ về Luật Cạnh tranh. Điều đó cho thấy sự hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về Luật Cạnh tranh rất thấp và mặc dù có thể việc xử lý, phát hiện vụ việc chưa nhiều, chưa công khai nên mọi người chưa biết đến Luật Cạnh tranh. Điều đó chứng tỏ việc tuyên truyền, phổ biến luật còn chưa tốt.

     Nội dung thứ hai của dự án là nâng cao năng lực điều tra cho cán bộ của Cục Quản lý cạnh tranh. Đây là các khóa đào tạo do phía JICA thực hiện ở Hà Nội hoặc mời cán bộ Cục Quản lý cạnh tranh sang học tập trung khoảng 3 tuần tại Nhật Bản. Ngoài ra, liên quan đến các vụ việc cụ thể khi mà Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành điều tra thì cá nhân ông Yamashita trực tiếp tư vấn, đưa ra khuyến nghị cũng như cách thức khi xử lý các vụ việc này.

     Tiếp theo là hỗ trợ cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến của Cục Quản lý cạnh tranh. Vì hiểu biết về Luật Cạnh tranh còn hạn chế nên Cục Quản lý cạnh tranh phải dành nhiều công sức cho việc tuyên truyền, phổ biến thông qua việc tổ chức các hội thảo cho nhiều đối tượng ở nhiều ngành nghề khác nhau. Ngoài ra, JICA đưa ra một số ấn phẩm liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng hoặc bản thân Cục cũng đưa ra các ấn phẩm giới thiệu về mình.

     Cuối cùng, Luật Cạnh tranh của Việt Nam được thực thi 10 năm nhưng còn tồn tại nhiều vấn đề. Vậy, JICA kỳ vọng điều gì sẽ thay đổi trong 10 năm tiếp theo khi áp dụng Luật này? Ông Yamashita chia sẻ quan điểm cá nhân về một số nội dung cần đổi mới về vấn đề này như sau:

     Thứ nhất, cần tiến hành sửa đổi Luật Cạnh tranh. Tại sao cần sửa đổi? Vì Luật cạnh tranh còn một số vấn đề hạn chế.

     Liên quan đến việc sáp nhập, hiện nay, theo quy định pháp luật Việt Nam, Công ty A sáp nhập Công ty B, nếu thị phần quá 50% thì việc sáp nhập sẽ bị cấm. Việc quy định như vậy nếu đem so sánh với các nước khác sẽ thấy đây là đặc thù mà không ở đâu có. Ví dụ, trên thị trường về nước khoáng đóng chai, một nhà kinh doanh thấy hai công ty làm ăn có lãi nên tham gia thị trường này, lập Công ty C với công nghệ hiện đại, giá rẻ, kinh doanh tốt, chiếm 30% thị phần, thì thị phần vốn có của Công ty A, B giảm và không phải là tổng của hai cái cộng lại với nhau mà chỉ là 40%. Mặt khác, trên thị trường có nhiều công ty nhỏ, thấy lĩnh vực này có lãi nên tăng sản lượng, ví dụ Công ty D, E và làm giảm thị phần của Công ty A và B. Đó là thực tế. Về điều kiện giả thiết, chúng ta có thể tính đến không chỉ doanh nghiệp nội địa, mà cả doanh nghiệp nước ngoài có thể nhập khẩu từ một doanh nghiệp khác (ví dụ doanh nghiệp Thái Lan) vào thị trường. Đứng từ góc độ là người tiêu dùng sẽ có nhiều sự lựa chọn, có thể mua sản phẩm của Công ty A, B, mua sản phẩm nhập khẩu, sản phẩm của Công ty C, đó là sự lựa chọn. Trên thế giới, khi sáp nhập doanh nghiệp cần phải tính tất cả các tình huống có thể xảy ra chứ không phải đưa ra một mức trên 50% là cấm. Điều đó là phi lý. Luật Việt Nam hiện đang mắc phải vấn đề này. Việc quy định cấm hành vi sáp nhập thực tế không thể chỉ căn cứ vào thị phần bởi vì việc sáp nhập này mang yếu tố tương lai tức là người ta giả định rằng lợi nhuận sẽ mang lại trong tương lai chứ không phải tại thời điểm sáp nhập, nếu như cứ quy vào là thị phần đó lớn hơn 55% và coi đó là hành vi vi phạm thì không hợp lý và sẽ phải tính toàn bộ những điều có thể xảy ra trong tương lai và trên thực tế, việc tính thị phần chỉ có thể thực hiện sau khi giả thiết hết được các khả năng có thể xảy ra. Đấy là điểm rất kỳ vọng được sửa đổi của Luật Cạnh tranh. Điểm thứ hai, hiện nay, Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh đều trực thuộc Bộ Công thương nên sẽ liên quan đến tính trung lập của hai cơ quan này. Và nhược điểm nữa liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đó là chỉ có Hội đồng Cạnh tranh mới có quyền ra quyết định. Trong Hội đồng Cạnh tranh, Chủ tịch là Thứ trưởng Bộ Công thương, các thành viên còn lại đến từ các bộ, ngành có liên quan, mang tính kiêm nhiệm, trong tương lai khi chúng ta xử lý các vụ việc mang tính cạnh tranh liên quan đến doanh nghiệp nhà nước thì liệu nó có đảm bảo tính trung lập trong xử lý các vụ việc hay không?

     Tiếp theo là số lượng ủy viên của Hội đồng này gồm 11 người là quá nhiều, khi đưa ra quyết định với số lượng ủy viên quá đông cũng là một khó khăn trong xử lý các vụ việc. Để giải quyết các vấn đề đó, phải dùng đến luật và hiện tại JICA đang hỗ trợ để có những sửa đổi cần thiết cho Luật Cạnh tranh của Việt Nam.

     Kỳ vọng tiếp theo trong 10 năm tới là có sự thay đổi trong nhận thức của người dân có liên quan đến Luật Cạnh tranh. Thực tế cho thấy có nhiều doanh nghiệp có hành vi vi phạm và lý do họ đưa ra là do không biết Luật Cạnh tranh, nhưng nếu họ biết mà vẫn có hành vi vi phạm mà lại không bị xử phạt thì điều đó sẽ gây ra tâm lý về tính tuân thủ của doanh nghiệp và người ta sẽ không cần tuân thủ theo luật nữa và như vậy sẽ không bảo vệ được luật. Vì vậy, cần thay đổi nhận thức và tăng cường nhận thức, sự hiểu biết và tăng cường khả năng thực thi luật thì lúc đó mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật.

     Và thay đổi thứ ba mà chúng tôi cũng kỳ vọng, đó là thay đổi cơ chế, khuôn khổ hợp tác quốc tế liên quan đến cạnh tranh. Ví dụ, Việt Nam ký FTA với Hàn Quốc, với EU, hiện nay Việt Nam cũng là thành viên TPP. Điều đó chứng tỏ rằng nền kinh tế của Việt Nam đang có sự chuyển hướng hợp tác, hội nhập sâu rộng hơn với thế giới. Khi nền kinh tế được toàn cầu hóa thì các hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh cũng mang tính quốc tế, toàn cầu rộng hơn. Vì vậy, trong thời gian tới, cần phải hoàn thiện khuôn khổ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này để có thể đáp ứng được quá trình toàn cầu hóa cũng như các giao dịch mang tính liên quốc gia. Tuy nhiên, để tham gia hợp tác quốc tế, phối hợp được với các quốc gia thì trước hết luật trong nước của Việt Nam phải đảm bảo tính đồng bộ, tính tương đồng với luật của các nước, khi đó chúng ta mới có thể đảm bảo hợp tác được. Đó cũng là một yếu tố cần thiết để phải điều chỉnh, sửa đổi luật hiện nay ■

     *Bài giảng tại Lớp Cao cấp lý luận chính trị K66.A01, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Phát triển thương hiệu trong cuộc khủng hoảng: Sớm còn hơn không - Tác giả: SERGEY MITROFANOV

- Những bất lợi ở thị trường nội địa khi Việt Nam thực hiện TPP

- Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống tư pháp ở Việt Nam hiện nay - Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Tất Viễn