Xây dựng hệ thống các giải pháp ở tầm chính sách và lựa chọn giải pháp đột phá để phát triển văn hóa thực sự là sức mạnh nội sinh của dân tộc - Tác giả: GS.TS. Đinh Xuân Dũng

24/08/2015 15:03

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP Ở TẦM CHÍNH SÁCH VÀ LỰA CHỌN GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ ĐỂ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA THỰC SỰ LÀ SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA DÂN TỘC

GS.TS. Đinh Xuân Dũng

Theo: Lý luận và Thực tiễn

Số 5 tháng 1 năm 2014

     1. Nhận định xu thế vận động của văn hóa Việt Nam hiện nay

     Thời gian gần đây, chúng ta đang tập trung tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Rất nhiều hội nghị, hội thảo đã được triển khai từ trung ương đến cơ sở với nhiều cách tiếp cận để tổng kết văn hóa, hoặc theo 10 nhiệm vụ của Nghị quyết Trung ương 5, hoặc theo các chuyên đề, hoặc theo từng lĩnh vực cụ thể. Đó là những cách tiếp cận cần thiết nhưng có lẽ chưa nhận diện được văn hóa với tư cách là một dòng chảy liên tục, luôn vận động, biến đổi phong phú, sâu sắc, tinh tế và phức tạp. Một số cách tiếp cận trên văn hóa ở trạng  thái tĩnh, trong khi văn hóa Việt Nam những năm qua phát triển trong một thời kỳ lịch sử rất đặc biệt, đang không ngừng tiếp biến, loại trừ, bổ sung, tiếp nhận và tự tìm kiếm sự phát triển của mình. Bài viết này muốn thử nhận diện xu hướng vận động ấy của văn hóa Việt Nam trong 15 - 20 năm qua.

     1. Nếu kể từ năm 1945 đến nay, lịch sử Việt Nam có 2 giai đoạn cơ bản. Giai đoạn thứ nhất, trong 30 năm (1945-1975), về cơ bản, đất nước, con người sống trong chiến tranh. Giai đoạn thứ hai, trong 38 năm (1975–2013), về cơ bản, đất nước, con người sống trong hòa bình. Cuộc sống rất bình thường, bị đảo lộn trong suốt 30 năm chiến tranh đã chuyển sang cuộc sống bình thường của con người. Đó là một sự biến động hoàn toàn về chất lượng, có tính chất là một bước ngoặt lịch sử. Trong 30 năm chiến tranh, vì độc lập, thống nhất Tổ quốc, con người Việt Nam chịu đựng muôn vàn gian khổ về vật chất để chiến đấu. Tất cả nhu cầu vật chất bình thường và tối thiểu của con người đều bị giới hạn, kìm nén. Con người lúc đó sống, làm việc bằng sức mạnh tinh thần, bằng ý chí chịu đựng những gian khó, gian khổ nghiệt ngã nhất, bằng khát vọng dành độc lập, tự do, bằng sức mạnh cố kết cộng đồng. Đời sống tinh thần với ý nghĩa là những cái chung của cộng đồng, của dân tộc đã chi phối toàn bộ xã hội. Tôi nhớ lúc đó, một chị thanh niên xung phong chân bị sưng tấy nhưng vẫn hành quân cùng đồng đội, vác nặng, đi xa trong bom đạn. Khi được phóng viên hỏi, lấy đâu ra sức mạnh để hành quân như vậy, chị đã trả lời: “Em đi bằng đầu chứ có đi bằng chân đâu”. Câu nói đó như là một sự đùa vui nhưng thể hiện một đặc trưng về đời sống tinh thần vượt lên trên đời sống vật chất của con người chúng ta trong chiến tranh. “Tiếng hát át tiếng bom” không phải là một khẩu hiệu mà đã trở thành “nội lực sống” của con người Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

     Bước sang thời hòa bình, như là một quy luật muôn thủa, nhu cầu tất yếu của con người là phải mưu cầu một cuộc sống bình thường, ngày càng no đủ về vật chất. Những nhu cầu bị kìm nén đến mức tối đa trong chiến tranh đã bật dậy, thúc bách con người phấn đấu vươn lên. Đó là một đòi hỏi chính đáng. Nhu cầu vật chất trở thành một động lực trực tiếp, thường trực của con người sau những năm chiến tranh và cả sau 10 năm khủng hoảng kinh tế - xã hội sau chiến tranh (1975-1986). Động lực đó đã chi phối tất cả các lĩnh vực trong đó đời sống xã hội, đến mức, có dấu hiệu khá phổ biến, từ vĩ mô đến vi mô, nhu cầu vật chất đã lấn át nhu cầu tinh thần. Người ta lao vào làm kinh tế để cải thiện đời sống và để làm giàu. Người ta lo “chạy” đầu tư, “chạy” vốn, “chạy” kinh doanh,… Chủ nghĩa thực dụng kinh tế đã chi phối đời sống xã hội. Nhu cầu văn hóa bị hạ thấp. Ở đây, xuất hiện một tình trạng mâu thuẫn mới. Trong chiến tranh, nhu cầu tinh thần mạnh hơn nhu cầu vật chất, trong thời bình, nhu cầu vật chất đã lấn át nhu cầu tinh thần và văn hóa. Một ví dụ nhỏ, khi hỏi hơn 1200 người dân ở Hà Nội về điều quan tâm nhất, thì 57,8% trả lời là “giá cả thị trường”, chỉ có 1,2% trả lời là “văn hóa, nghệ thuật” (Theo thông tin của PGS.TS Phạm Quang Long về kết quả khảo sát ở Hà Nội). Phải chăng có thể rút ra một nhận định như sau: Xu hướng vận động của văn hóa Việt Nam thời gian qua đang có dấu hiệu đáng báo động, từ một nhu cầu chính đáng về đời sống vật chất sau chiến tranh, do thiếu sự chỉ đạo sâu sắc và nhạy bén về văn hóa, đã làm cho nhu cầu vật chất lấn át nhu cầu văn hóa. Chủ nghĩa thực dụng đang tác động cực kỳ phức tạp và trực tiếp đến đời sống xã hội. Rất nhiều biểu hiện, từ vĩ mô đến vi mô, cho phép chúng ta chỉ ra xu hướng đáng lo ngại này. Một số cấp lãnh đạo chỉ quan tâm đến lo chạy để tăng trưởng kinh tế, không đủ năng lực chỉ đạo văn hóa, xây dựng đời sống tinh thần. Sự suy thoái ngày càng phổ biến và trầm trọng của tư tưởng, đạo đức, lối sống mà ai cũng đã biết. Các quan hệ xã hội, từ gia đình đến cộng đồng, tập thể, từ trong Đảng đến ngoài Đảng, ở nhiều nơi, nhiều lúc đang bị chi phối bởi lợi ích kinh tế, dẫn đến sự đổ vỡ của đời sống tinh thần, văn hóa. Đây là xu hướng vận động cần phải được quan tâm số một khi nhìn nhận văn hóa Việt Nam đương đại. Chỉ khi nào xã hội tạo được sự phát triển hài hòa, cân đối giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, văn hóa, khi đó xã hội mới phát triển bền vững.

     2. Trong khi đánh giá văn hóa, người ta thường nêu lên 2 mặt, kết quả, thành tựu và yếu kếm, khuyết điểm của văn hóa. Khi nhận định về tình hình thực hiện 10 nhiệm vụ của văn hóa trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), phần lớn các báo cáo của Trung ương và các địa phương đều cố gắng chỉ ra thành tựu, kết quả của nó, sau đó có một từ “nhưng” hoặc “tuy nhiên” để phân tích những hạn chế, yếu kém. Cách làm đó là cần thiết, nhưng nếu chỉ dành lại ở đó thì sẽ thiếu vì chỉ nhìn văn hóa ở trạng thái tĩnh, chia cắt, không nhận diện văn hóa như một dòng chảy liên tục, vì vậy, rất rễ làm người ta rơi vào tình trạng sau đây: không thấy được tác động lẫn nhau của hai mặt đó trong hoạt động văn hóa, hoặc là không thấy có vấn đề gì cần phải đặc biệt quan tâm, do đó không rút ra được những kết luận, nhận định có giá trị thực tiễn và tính đột phá, hoặc là không có khả năng nhìn sâu vào bản chất của văn hóa. Vấn đề đặt ra ở đây là, từ ưu điểm và khuyết điểm cụ thể nhưng bị tách rời nhau đó, cần phân tích, làm rõ và chỉ ra được xu hướng vận động của văn hóa theo chiều hướng nào, tích cực hay tiêu cực, đáng mừng hay đáng lo ngại. Nếu đứng từ góc nhìn đó, tôi cho rằng xu hướng vận động của văn hóa Việt Nam hiện nay có nhiều dấu hiệu đáng lo ngại. Kinh tế tăng trưởng khá nhưng đời sống văn hóa lại có nhiều biểu hiện xuống cấp, người khá giả, giàu có nhiều hơn nhưng sự suy thoái về nhân cách, đạo đức lại tăng lên. Giáo dục phát triển mạnh mẽ về quy mô và số lượng nhưng đang có biểu hiện xa sút, lúng túng về mục tiêu và chất lượng đào tạo. Khoảng cách ngày càng doãng ra giữa đời sống văn hóa của đô thị với nông thôn và miền núi. Sự xuống cấp nặng nề, chưa khắc phục được lối sống trong một bộ phận thanh thiêu niên. Sự mất niềm tin ngày càng lan tràn của quần chúng đối với thể chế, đối với sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, đối với cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị. Sự dối trá như một căn bệnh truyền nhiễm đang lan tràn trong các mối quan hệ xã hội. Người ta đã nghĩ tới một nỗi lo rất sâu sắc sau đây: Để khắc phục sự khủng hoảng kinh tế cần 3-5 năm, nhưng để cứu vãn sự sa sút về nhân cách phải cần đến cả một thế hệ. Liệu có bi quan không khi chỉ ra xu hướng vận động này?

     3. So với toàn bộ lịch sử văn hóa Việt Nam từ 1986 trở về trước, văn hóa Việt Nam hiện nay phát triển rất đa dạng. Nhiều loại hình, loại thể, dấu hiệu rất mới và rất lạ đã xuất hiện trong văn hóa Việt Nam hiện nay. Sự phục hồi chưa từng thấy của văn hóa cổ truyền, cả tiến bộ và lạc hậu, từ vài trăm lễ hội trước 1986, đến nay cả nước đã có tới hơn 8000 lễ hội. Các loại hình, loại thể văn hóa, văn hóa, nghệ thuật nước ngoài, cả Đông và Tây ồ ạt xâm nhập vào Việt Nam, đôi khi lấn át văn hóa bản địa và truyền thống. Thị trường các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Hàng trăm kênh truyền hình phát sóng 24/24 giờ. Các phương tiện kỹ thuật, công nghệ truyền tải các sản phẩm văn hóa chưa bao giờ được hiện đại hóa như những năn gần đây. Những biểu hiện đó là đáng mừng trong sự phát triển mạnh mẽ và tính đa dạng của văn hóa. Nhưng cái gì đọng lại trong nhân cách con người thông qua sự phát triển đa dạng đó của văn hóa lại là một vấn đề đáng quan tâm. Định hướng cho sự phát triển nhân cách bằng các hoạt động đa dạng đó là gi? Những giá trị cốt lõi gì được hình thành thông qua tác động cụ thể của văn hóa? Tôi nghĩ rằng, bên cạnh nhân tố tích cực như sự phát triển của cá thể, của cá nhân con người, khả năng, trình độ hiểu biết và tiếp nhận văn hóa của công chúng thời hiện đại này được mở rộng và nâng cao. Song, cái mà văn hóa cần định hình trong nhân cách con người Việt Nam hiện nay không thể hiện rõ rệt. Có sự lúng túng trong chỉ đạo giữa sự phát triển bề mặt của văn hóa với năng lực sử dụng văn hóa nhằm xây đắp những giá trị cốt lõi của con người Việt Nam hiện đại. Xin lưu ý rằng, trong cấu trúc của văn hóa có hai yếu tố không thể tách rời nhau, đó là cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu. Hai thành tố này xuyên thấm vào nhau để tạo ra dòng chảy của văn hóa. Cấu trúc bề mặt là toàn bộ những biểu hiện cụ thể của văn hóa trong tính đa dạng, muôn vẻ của nó và luôn luôn biến đổi. Cấu trúc chiều sâu là những giá trị được kết tinh lại thông qua tính phong phú, cụ thể và độc đáo của cấu trúc bề mặt. Nếu nhìn văn hóa ở đặc trưng đó thì trong xu hướng vận động của văn hóa Việt Nam hiện nay, sự phát triển của cấu trúc bề mặt chưa góp phần tạo ra được những giá trị trong cấu trúc chiều sâu của nó. Hay nói một cách khác, về mặt chỉ đạo và quản lý, có phần buông lỏng trong sự phát triển cấu trúc bề mặt của văn hóa. Đồng thời, sự lúng túng trong định hướng những giá trị cần có, cần kết tinh, cần “làm tổ” trong tinh thần, tình cảm con người là gì, trên cơ sở tính đa dạng và phong phú của cấu trúc bề mặt. Xu hướng vận động đó, phải chăng là rất đáng lo ngại? Vai trò, ý nghĩa của văn hóa không chỉ dừng lại ở việc sản suất những sản phẩm cụ thể, dù các sản phẩm đó ngày càng phong phú, đa dạng, song mục tiêu cuối cùng của văn hóa, nói như C.Mác phải là “sản suất ra những giá trị trong nhân cách”. Nếu nhìn ở góc độ đó, chúng ta chưa phát triển văn hóa trong sự cân đối, hài hòa giữa cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu cần có của nó. Loại những sản phẩm được xếp vào loại thứ phẩm, phế phẩm, thậm chí dưới văn hóa, phản văn hóa đang lan tràn trong đời sống xã hội - đó thực chất là những độc chất phá hoại nhân cách.

     4. Văn hóa Việt Nam từ ngàn đời nay chứa đựng trong nó một quy luật rất đặc thù. Đó là sự tiếp nhận, đấu tranh, bổ sung và phát triển giữa văn hóa bản địa và văn hóa nước ngoài. Suốt hàng ngàn năm, quy luật này trở thành một thách thức gay gắt đối với sự phát triển của văn hóa dân tộc Việt Nam. Sự giao lưu giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa các nước diễn ra liên tục từ khi dựng nước đến nay. Khi chúng ta chủ động tiếp nhận văn hóa nước ngoài và chủ động “Việt hóa” thành tựu của văn hóa nước ngoài để nó trở thành một thành tố của văn hóa dân tộc, khi đó văn hóa Việt Nam sẽ phát triển và ngược lại. “Việt hóa” những thành tựu, những trào lưu của văn hóa nước ngoài là một xu hướng vận động và một quy luật của văn hóa Việt Nam. Hiện nay, văn hóa Việt Nam đang đứng trước thách thức gay gắt này. Chưa bao giờ sự xâm nhập của văn hóa nước ngoài, kể cả Đông và Tây, quá khứ và đương đại, tiến bộ và lạc hậu, phẩn động lại ồ ạt xâm nhập vào đời sống văn hóa của chúng ta như hiện nay. Có 3 xu hướng đang diễn ra của quá trình tiếp nhận trên. Một là, học hỏi có chọn lọc để tạo cho sự phát triển của quá trình hiện đại hóa văn hóa dân tộc. Hai là, bắt chước, mô phỏng, thiếu sáng tạo để tạo ra những sản phẩm văn hóa ngô nghê, không phải của ta cũng chẳng phải của tây. Ba là, sự lệ thuộc, đề cao tuyệt đối văn hóa nước ngoài rồi phủ định, hạ thấp văn hóa dân tộc. Ở đây, xu hướng thứ nhất đang ở trong tình trạng non yếu, trong khi xu hướng 2 và 3 có biểu hiện lấn át hơn. Vấn đề đặt ra ở đây là, xu hướng vận động đó của văn hóa theo chiều hướng nào sẽ quyết định sự phát triển bền vững của văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu và hội nhập. Tôi nghĩ rằng, thách thức trên đây chưa có sự giải đáp có tính thuyết phục trong thực tiễn. Rất nhiều những vấn đề lý luận cần phải tháo gỡ góp phần trả lời thách thức trên.

     5. Bốn xu hướng vận động trên đây chứa đựng trong nó cả những nhân tố tích cực, có giá trị và nhiều dấu hiệu đáng lo ngại đang là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sa sút của văn hóa. Từ thực trạng trên, thử dự báo những khả năng nào của sự phát triển văn hóa Việt Nam thời gian tới?. Có lẽ, có 3 khả năng (hay 3 kịch bản) sau:

     Một là, không thể diễn ra tình trạng đánh mất văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như cảnh báo, nỗi lo của một số người trước thực trạng văn hóa hiện nay. Nội lực của văn hóa Việt Nam là to lớn, sâu sắc. Con người Việt Nam có bản lĩnh, kinh nghiệm tự xây đắp cho dân tộc mình một nền văn hóa độc đáo từ ngàn đời nay. Dù văn hóa của chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức gay gắt trong thời kỳ chuyển đổi sâu sắc, chúng ta vẫn tin tưởng rằng, nền văn hóa này vẫn trụ vững, không thể bị hòa tan hay tự đánh mất mình.

     Hai là, một thời gian dài sắp tới, nếu không kịp thời có những định hướng có giá trị chỉ đạo thực tiễn và các giải pháp đột phá, văn hóa Việt Nam vẫn không vượt qua được những thách thức, khó tạo được bước phát triển về chất lượng và từ đó, giảm thiểu vai trò là nền tảng tinh thần, động lực của sự phát triển. Nền văn hóa đó tiếp tục phát triển theo chiều rộng, theo cấu trúc bề mặt, đáp ứng các loại nhu cầu ngày càng đa dạng, phức tạp trong xã hội của con người, nhưng khó tạo nên những sản phẩm văn hóa đỉnh cao. Nếu khả năng này diễn ra, đó là một nỗi thất vọng lớn.

     Ba là, trên cơ sở thay đổi sâu sắc nhận thức về vai trò ngày càng quan trọng của văn hóa trong xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đúc kết về mặt lý luận những tư tưởng lớn về mặt văn hóa, tập trung mọi nỗ lực chỉ đạo thực tiễn toàn bộ quá trình xây dựng văn hóa, đề xuất và kiên trì thực hiện các giải pháp có tính đột phá, những năm tới, chúng ta sẽ tạo được bước phát triển về chất lượng của văn hóa, để văn hóa Việt Nam xứng đáng là sứ mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ lịch sử mới. Tôi nghĩ, khả năng thứ hai và thứ ba đều đang có tính hiện thực.

     2. Đề xuất các giải pháp ở tầm chính sách để phát triển văn hóa thực sự là sức mạnh nội sinh của dân tộc

     2.1. Về bài học thực tiễn

     Khi kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện một chủ trương nào đó của Đảng và Nhà nước, lâu nay, chúng ta thường rút ra kết luận: Đường lối, chủ trương đúng, nhưng tổ chức thực hiện kém. Điều đó, về cơ bản, là đúng, song cũng phải nhận thấy một thực tế khác, đó là tính khả thi, tính lịch sử cụ thể của chủ trương đó. Tôi nhớ, một nhà nghiên cứu nước ngoài có nhận xét: ở các nước còn nghèo, vì sốt ruột mà thường hay đề ra các mục tiêu lớn, hoành tráng, có tính lý tưởng, song thiếu tính khả thi nên dễ rơi vào thất vọng vì không thực hiện được. Phải chăng, đây là bài học thực tiễn đối với chúng ta. Mặt khác, đôi khi ý tưởng rất lớn, rất hay, thỏa mãn sự chờ mong của công chúng, nhưng rất thiếu các giải pháp hoặc ngược lại, đề ra một loại giải pháp, nhưng không kiên trì, kiên quyết, có kế hoạch tổ chức, triển khai thực hiện các giải pháp đó, vì vậy kết quả là chủ trương không đi vào được cuộc sống, vẫn nằm trên các trang giấy, thực tiễn có một khoảng cách rất xa với những ý tưởng. Đó cũng lại là bài học thực tiễn sâu sắc khác. Đối với lĩnh vực văn hóa, xin nêu một vài hiện tượng tiêu biểu.

     Thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng vè văn hóa thành pháp luật, chính sách… của Nhà nước là một phương thức quan trọng đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa. Có thể nói, từ đổi mới đến nay rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới về văn hóa được xây dựng và phát triển trong cuộc sống. Trước năm 1986, có rất ít luật về văn hóa, mà phần lớn là các thông tư, chỉ thị, hướng dẫn. Gần 28 năm qua, một loạt luật liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực văn hóa được xây dựng như: Luật Di sản, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh… Đồng thời, các chính sách cụ thể về văn hóa cũng được chú trọng soạn thảo và thực hiện. Do sự phát triển nhanh của thực tiễn văn hóa trong những năm đổi mới nên các văn bản pháp luật trên thường phải được bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh. Dựa trên những nguyên tắc cơ bản được xác định trong quan điểm của Đảng, đặc điểm của các văn bản quy phạm pháp luật về văn hóa trong thời kỳ đổi mới là tính chất hợp lý, thông thoáng và ngày càng phù hợp với đặc trưng của từng loại hình văn hóa.

     Tuy vậy, còn một số chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa, văn học, nghệ thuật rất chậm được thể chế hóa, lại không đồng bộ, lạc hậu nhanh và đôi khi không được thể chế hóa. Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (tháng 11.1987) đến nay đã 26 năm, song một số chính sách vẫn chưa được thực hiện hoặc vừa triển khai thực hiện đã nhanh chóng lạc hậu như: “Tiến tới thành lập Quỹ văn hóa Việt Nam theo hướng huy động mọi lực lượng, mọi khả năng cả ở trong nước và ngoài nước” và “khẩn trương nghiên cứu để sớm ban hành các cơ chế thù lao nghệ thuật, đảm bảo cho nghệ sỹ chuyên nghiệp có thể sống và tiếp tục sáng tạo chủ yếu bằng nhuận bút” (trích Nghị quyết của Bộ Chính trị số 050-NQ/TW ngày 28/11/1987). Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) ngày 14/11/1993) “về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt” (đến nay tròn 20 năm) lại khẳng định chính sách: “Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các chế độ lương, thù lao. Mua bán tác phẩm, thuế, chính sách khuyến khích sáng tác… đảm bảo cho văn nghệ sỹ chuyên nghiệp có thể sống bằng nghề nghiệp chính của mình”. Định hướng các chính sách đó, tuy có được triển khai, song trên thực tế đã không thực hiện được như yêu cầu của Nghị quyết. Có thể khẳng định rằng, ý tưởng “nghệ sỹ chuyên nghiệp có thể sống và tiếp tục sáng tạo chủ yếu bằng nhuận bút” về cơ bản đã không trở thành hiện thực. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) ban hành năm 1998 đã xác định một hệ thống chính sách cần xây dựng và thực hiện để phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật. Nếu hệ thống chính sách này được thực hiện chắc chắn sẽ là động lực, đòn bẩy mạnh mẽ  cho sự phát triển. 15 năm qua tuy chúng ta đã có nhiều cố gắng triển khai thực hiện, song vẫn còn một số chính sách chưa được xây dựng, đồng thời một số chính sách đã ban hành nhưng đã trở nên lạc hậu. Ví dụ như hệ thống “chính sách kinh tế trong văn hóa nhằm gắn văn hóa với các hoạt động kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế, tài chính hỗ trợ cho phát triển văn hóa” và “chính sách văn hóa trong kinh tế đảm bảo cho văn hóa thể hiện rõ vai trò, mục tiêu động lực trong các hoạt động kinh tế”. Chính vì việc thể chế hóa chậm, lạc hậu, nhiều chính sách còn chắp vá, giải quyết tình thế, cho nên “cơ chế xin - cho” còn khá phổ biến đối với hoạt động văn hóa, nghệ thuật.

     Nếu tình hình vẫn tiếp tục diễn ra như thế trong những năm tới, thì tâm lý nghi ngại tính hiệu quả của các Nghị quyết vẫn khó tránh khỏi. Dù chưa vượt qua được tâm trạng đó, song vì mong ước văn hóa có một bước phát triển mới, có ý nghĩa về chất lượng trong thời kỳ mới, bài viết này mạnh dạn đề xuất một số giải pháp, chủ yếu ở tầm chính sách cho sự phát triển của văn hóa thời kỳ mới.

     2.2. Văn hóa trở thành một đột phá chiến lược

     Phải chăng, phát triển văn hóa trong thời kỳ mới phải trở thành một đột phá chiến lược, cùng với 3 đột phá trong lĩnh vực kinh tế - xã hội đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển nhanh nguồn nhân lực và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ) trở thành sức mạnh đột phá tổng hợp để tạo nên bước phát triển mới, nhanh và bền vững của đất nước. (Xin lưu ý rằng, cội nguồn sức mạnh tạo nên bước phát triển kỳ diệu của Nhật Bản ở đầu thế XX cũng chính từ văn hóa và trong thế giới hiện đại, người ta khẳng định văn hóa là một trong bốn trụ cột của sự phát triển).

     Ý nghĩa chiến lược của sự đột phá này thể hiện không phải chỉ là tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa cụ thể phục vụ con người, mà chủ yếu là đưa văn hóa vào kinh tế, tạo ra bằng được trong các sản phẩm kinh tế, kinh doanh, dịch vụ tỷ trọng ngày càng cao của hàm lượng chất xám,hàm lượng trí tuệ và đó là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất nâng cao chất lượng sản phẩm kinh tế, chuyển từ một kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng, dựa vào tài nguyên, khoáng sản, nguồn nhân lực giá rẻ… sang một nền kinh tế phát triển theo chiều sâu. Lâu nay, quan niệm văn hóa “đi theo sau kinh tế” vẫn còn khá phổ biến. Đột phá về kinh tế, xét cho cùng, chính lại bắt đầu từ văn hóa, với ý nghĩa văn hóa không phải là nhân tố ở bên ở bên cạnh, bên ngoài kinh tế, mà nằm ngay trong kinh tế. Có nghĩa là, khi Nghị quyết TW 5 yêu cầu làm cho văn hóa thấm sâu vào kinh tế, không có nghĩa chỉ ở mặt đạo đức, ứng xử văn hóa trong các hoạt động kinh tế, mà đòi hỏi văn hóa là nhân tố trực tiếp làm nên chất lượng của sản phẩm kinh tế. Đây là đặc điểm nổi bật của sản suất thời hiện địa, thể hiện sâu nhất sự thấm sâu của văn hóa vào kinh tế. Nếu từ tầm nhìn đó, chúng ta còn phải làm rất nhiều việc, cần huy động tiềm lực, tài năng, trí tuệ của cả dân tộc mới thực hiện được quá trình văn hóa thấm sâu vào kinh tế.

     2.3. Tập trung nhân lực, vật lực, tài lực cho ba lĩnh vực quan trọng tạo nên diện mạo văn hóa Việt Nam đương đại.

     Từ mục tiêu chung của công cuộc đổi mới trong những năm tới, cần phải khẳng định rằng, văn hóa Việt Nam phải có diện mạo mớichất lượng mới, đồng thời từ thực tiễn xây dựng văn hóa những năm qua, chúng ta có thể xác định ba lĩnh vực quan trọng tạo nên diện mạo mới đó của nền văn hóa, từ đó cần phải tập trung cả nhân lực, vật lực, tài lực cho nhiệm vụ xây dựng ba lĩnh vực đó, đó là đời sống văn hóa cơ sở, những sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật đỉnh cao và những công trình văn hóa tiêu biểu, xứng đáng với giai đoạn phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

     Nếu toàn bộ văn hóa là một đột phá chiến lược trong sự phát triển chung của đất nước, thì ba lĩnh vực trên là ba đột phá cần tập trung xây dựng trong bản thân nền văn hóa của chúng ta thời kỳ mới. Cũng có thể nghĩ rằng, ba lĩnh vực này đang gặp nhiều khó khăn, yếu kém, chưa vượt qua được như sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự thiếu vắng “đáng sợ” của những tác phẩm đỉnh cao và hầu như chưa có một công trình văn hóa tiêu biểu nào được xây dựng và trở thành trung tâm văn hóa lớn, niềm tự hào của dân tộc thời kỳ đổi mới. Xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa chính là quá trình văn hóa hóa toàn bộ đời sống xã hội.  Sản phẩm văn hóa đỉnh cao là thể hiện nội lực, trí tuệ, tài năng của dân tộc. Những công trình văn hóa lớn là biểu trưng độc đáo cho bản sắc và diện mạo của một nền văn hóa.

     Về đời sống văn hóa cơ sở, cần tập trung cho nội dung lớn và quan trọng là xây dựng môi trường văn hóa ở thôn xóm, bản làng, cộng đồng dân cư, cơ quan, trường học, đơn vị, địa phương. Giải pháp hàng đầu thể hiện nội dung này là đa dạng hóa các phương thức hoạt động và tổ chức phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” để phát huy tinh thần tự nguyện, tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Trên cơ sở đó, xây dựng và thực thi các chế tài, quy chế ổn định, thực chất để duy trì cuộc vận động lâu dài này. Đối với hệ thống bảo tàng, nhà truyền thống, thư viện, phòng đọc sách, nhà văn hóa, nhà thông tin - triển lãm, sân bãi thể dục, thể thao, khu vui chơi, giải trí… những năm tới cần hoàn chỉnh về cơ bản việc quye hoạch phát triển và xây dựng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động. Đối với việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cần gắn chặt, hài hòa nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị các di sản đó với hoạt động kinh tế du lịch là một đặc điểm, yêu cầu và giải pháp mới. Cần khẩn trương xây dựng chế tài cơ bản, lâu dài cho sự kết hợp này để phát triển du lịch, đồng thời bảo vệ lâu dài các di sản văn hóa dân tộc.

     Để thực hiện có hiệu quả cao nhất nhiệm vụ tạo ra những tác phẩm, công trình văn hóa, văn nghệ đỉnh cao, có giá về tư tưởng và nghệ thuật, có ảnh hưởng và tác dụng tích cực, sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội, và để có được những công tình văn hóa tiêu biểu, xứng đáng với giai đoạn phát triển mới của đất nước cần nhấn mạnh việc đổi mới sâu sắc tư duy về văn hóa, năng lực lãnh đạo, điều hành và tổ chức của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy mạnh mẽ tiềm năng, sức sáng tạo của văn nghệ sỹ, của toàn xã hội, của các lực lượng kinh tế và cả sự hợp tác quốc tế trên lĩnh vực văn hóa.

     Về nhiệm vụ đầu tư cho văn hóa, càn đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, chú trọng hệ thống các thiết chế văn hóa, đồng thời tập trung để có những công trình văn hóa lớn, tiêu biểu cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện địa hóa đất nước.

     2.4. Để thực hiện được các nhiệm vụ phát triển ba lĩnh vực quan trọng trên, cần phải có các giải pháp chủ yếu sau đây

     a) Nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng và cấp ủy các cấp đối với lĩnh vực văn hóa; trước hết, cần coi trọng đổi mới thực sự tư duy về lý luận về văn hóa; đảm bảo định hướng chính trị đi đôi với vận dụng đúng đắn những đặc trưng của công tác văn hóa trong quản  lý văn hóa vĩ mô và vi mô; chủ động xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển văn hóa từ địa phương đến Trung ương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước định kỳ làm việc với các cơ quan văn hóa, có kế hoạch, biện pháp đẩy mạnh việc xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng và trong các cơ quan nhà nước để làm gương cho xã hội, nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Tổ chức thành chế độ bắt buộc  đào tạo và đào tạo lại tất cả các loại cán bộ trong hệ thống chính trị về những vấn đề cơ bản của văn hóa.

     b) Xây dựng một chiến lược phát triển đội ngũ sáng tạo văn hóa nghệ thuật, có kế hoạch văn hóa nghệ thuật, có kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng tài năng trong tất cả các lĩnh vực văn hóa; tôn trọng tự do sáng tác, xây dựng quan hệ chân thành, cở mở đối ví đội ngũ những người hoạt động văn hóa, có chính sách trọng dụng người tài, đồng thời chăm lo định hướng chính trị và ý thức trách nhiệm công dân nhằm phát huy cao nhất sự  đóng góp của đội ngũ tri thức, văn nghệ sỹ, nhà báo cho sự phát triển văn hóa.

     c) Phát huy tính năng động sáng tạo của cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các hội sáng tạo văn hóa - nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật và các cơ quan thông tin, báo chí trong sự nghiệp văn hóa, tạo nên sức mạnh tổng hợp, động viên nhân dân và đội ngũ tri thức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa.

     Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động văn hóa nhằm động viên, huy động có hiệu quả sức người, sức của trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế - xã hội để xây dựng và phát triển văn hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội.

     d) Xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa; phát triển các doanh nghiệp văn hóa  đủ khả năng đứng vững trong cơ chế thị trường, đạt hiệu quả văn hóa - xã hội và kinh tế, nang cao chất lượng phục vụ. Nâng cao chất lượng sáng tạo, sản xuất, bảo quản, tôn tạo, truyền bá và tiếp nhận các sản phẩm, các công trình văn hóa.

     e) Có kế hoạch triển khai chương trình giáo dục văn hóa, giáo dục thẩm mỹ, nâng cao chất lượng giáo dục khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường từ phổ thông đến đại học. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh thiếu niên. Yêu cầu văn hóa trong việc xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam về nhân cách là một công việc cực kỳ cần thiết, vừa rất cơ bản, chiến, vừa rất cấp bách, trong đó, nhấn mạnh bốn giá trị lớn mà văn hóa phải chăm lo nuôi dưỡng cho thanh niên là: Lý tưởng sống; năng lực trí tuệ; vẻ đẹp đạo đức; bản lĩnh văn hóa.

     Bốn giá trị đó mang ý nghĩa rất quan trọng đối với thế hệ trẻ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, giao lưu quốc tế. Phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ, những người hoạt động văn hóa tham gia hỗ trợ, giúp đỡ nhà trường thực hiện nhiệm vụ này.

     g) Đẩy mạnh giáo dục về chủ nghĩa xã hội, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tạo chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, trí tuệ người Việt Nam theo hệ giá trị chung của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện địa hóa. Lập kế hoạch và lộ trình xây dựnghoàn thiện hệ thống các giá trị mới của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Đây là một đòi hỏi rất cao và mới đối với văn hóa giai đoạn tới, bởi vì những năm qua, cuộc vận động xây dựng con người mới, tuy có bề rộng, nhưng chưa sâu, chưa bền vững, hiệu quả còn hạn chế và hình ảnh con người Việt Nam hiện đại còn mờ nhạt trong sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật. Cần tập trung cho việc cụ thể hóa hệ giá trị đó thành những mẫu hình, chuẩn mực phù hợp với từng giới, từng ngành, địa phương, đơn vị, kết hợp sâu sắc giữa giá trị truyền thống tốt đẹp và giá trị mới. Đấu tranh kiên quyết chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

     h) Tăng cường đầu tư cho văn hóa, phấn đấu đến năm 2020 ít nhất đạt trên 1,8% đến 2% tổng chi ngân sách của Nhà nước; bảo đảm kinh phí cho các chương trình, mục tiêu phát triển văn hóa. Động viên các tầng lớp nhân dân, nhất là người say mê hoạt động văn hóa, cả trong và ngoài nước, đầu tư, đóng góp cho sự nghiệp văn hóa vì sự phồn vinh của văn hóa dân tộc./.

Chú thích:

     (1) Nghị quyết  về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước, ngày 23-01-1995.

     (2) Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh, ngày 18-6-1997.

     (3) Đã được điều chỉnh trong Kết luận số 92-KL/TW ngày 12-03-2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 như sau: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

     (4) Quốc hội đã thông qua Luật Luật sư 2006; Luật Công chứng 2006; Luật Đặc xá 2007; Luật Thi hành án dân sự 2008; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2009; Luật Lý lịch tư pháp 2009; Luật Tố tụng hành chính 2010; Luật Thi hành án hình sự 2010; Luật Trọng tài thương mại 2010; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011; Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự (sửa đổi, bổ sung) 2007.

     (5) Đã được điều chỉnh một số nội dung về quan điểm và nhiệm vụ về cải cách tư pháp theo kết luận số 92-KL/TW, ngày 12-3-2014 của Bộ Chính trị.

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Sự xung đột của các tư tưởng kinh tế - Tác giả: Lawrence H.White

- Tại sao cần đọc các tác phẩm cổ điển về kinh tế? - Tác giả: Peter J. Boettke

- Sự đụng độ của các định nghĩa - Tác giả: Edward Said - Biên dịch: Lê Nguyên Long

- Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học - Tác giả: Dani Rodrik - Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Hai hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law - Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn

- Chủ nghĩa hiện thực tân cổ điển và các lý thuyết về chính sách đối ngoại - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Ánh | Hiệu đính: Trương Minh Huy Vũ

- Phân tích chính sách đối ngoại - Biên dịch: Đào Tuấn Ninh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Mối quan hệ biện chứng nội sinh và ngoại sinh tạo thành sức mạnh của dân tộc và của sự phát triển - Tác giải: GS.TS. Đinh Xuân Dũng