Nhận thức của Đảng về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước qua gần 30 năm đổi mới - Trích báo cáo "Tổng kết 30 năm đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước" của Bộ Công thương

25/08/2015 01:46

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC QUA GẦN 30 NĂM ĐỔI MỚI

Theo: Lý luận và Thực tiễn

Số: 10 năm 2014

     I. Quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ Đại hội VI đến Đại hội XI

     1. Sự đổi mới nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

     1.1. Tính tất yếu của việc đổi mới nhận thức của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

     Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn ở mức sơ khai, đất nước lại bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc vừa thực hiện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, vừa phải chiến đấu chống Mỹ, giải phóng miền Nam; lực lượng sản xuất và phân công lao động đều còn ở trình độ thấp kém, quan hệ sở hữu với hai hình thức chủ yếu là sở hữu toàn dân (quốc doanh) và tập thể. Đại hội III của Đảng (1960) đã đề ra đường lối công nghiệp hóa là: "Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở nước ta. Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhằm xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Điểm mấu chốt trong công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mới có thể cung cấp những tư liệu sản xuất cho công nghiệp và nông nghiệp, bảo đảm không ngừng tái sản xuất mở rộng xã hội chủ nghĩa, phát triển cao độ nền kinh tế quốc dân, cải thiện không ngừng tái sản xuất mở rộng xã hội chủ nghĩa, phát triển cao độ nền kinh tế quốc dân, cải thiện không ngừng đời sống của nhân dân lao động".

     1.2. Các giai đoạn chủ yếu thay đổi nhận thức

     "Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở nước ta. Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhằm xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo điều kiện cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi..." Đại hội III của Đảng (1960).

     Đại hội VI của Đảng: Tại Đại hội VI, sau khi đúc kết những kinh nghiệm của một số nền kinh tế trên thế giới, chúng ta đã đề ra và thực hiện từng bước việc đổi mới các chính sách kinh tế trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế và tổng kết các thử nghiệm trong thực tế. Có thể coi giai đoạn 1986-1990 là giai đoạn "khởi động" cho một sự phát triển kinh tế mạnh mẽ sau này. Đại hội đã thông qua đường lối đổi mới toàn diện, trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế.

     Đại hội VII của Đảng: Tiếp tục những thành công trong những năm trước, Đại hội VII đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội nước ta đến năm 2000. Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7/1994) đã ra Nghị quyết "Về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới". Nghị quyết đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ chế, chính sách cụ thể thúc đẩy phát triển công nghiệp, đẩy mạnh công tác khoa học công nghệ phục vụ sản xuất.

     Đại hội VIII của Đảng: đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đến năm 2020: "Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh".

     Đại hội IX của Đảng: đã kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991-2000; Tổng kết những thành tựu, bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới; từ đó đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại...".

     Đại hội X của Đảng: đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng về phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế 5 năm 2006-2010 với mục tiêu tổng quát là: "Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân. Tạo được nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020...".

     Đại hội XI của Đảng: thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010, nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển; vị thế của đất nước đã được nâng lên một tầm cao mới trên trường quốc tế, do đó đang tạo ra những tiền đề mới, quan trọng cho việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta.

     Về mục tiêu chung, phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Trong đó, các mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội là như sau:

     Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp; tăng nhanh hàm lượng nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

     2. Diễn tiến đổi mới nhận thức lý luận của đảng đối với vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ Đại hội VI đến Đại hội XI

     2.1. Về mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

     Đại hội lần thứ VI (1986) xác định: "Mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo".

     Đại hội VII đã có những bước đột phá mới về công nghiệp hóa. Lần đầu tiên, phạm trù "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (CNH, HĐH) được xác định chính thức trong Văn kiện của Đảng. Trong điều kiện phát triển mới, CNH ở nước ta phải gắn liền với hiện đại hóa, bởi lẽ: trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, nếu nước ta không tiến hành công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ phát triển chung của thế giới.

     Đại hội VIII cho rằng "Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt nhất định còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước". Từ đó, Đại hội đã xác định mục tiêu đến năm 2000 và năm 2020. Đại hội VIII đã bổ sung, phát triển thành 6 quan điểm lớn chỉ đạo quá trình CNH, HĐH. Những quan điểm tổng quát này cho thấy rõ hơn: mô hình CNH, HĐH của nước ta là sự kết hợp giữa chiến lược CNH thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu, trong đó nhấn mạnh yêu cầu hướng mạnh về xuất khẩu, coi thị trường bên ngoài là một yếu tố giữ vị trí đặc biệt quan trọng cho sự phát triển.

     Đại hội IX đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005. Chủ đề của Đại hội được xác định là "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI (2001-2010) là "Chiến lược đẩy mạnh CNH, HĐH theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp". Chủ đề Đại hội và chủ đề của Chiến lược được quyết định tại Đại hội đã thể hiện nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển mới là "đẩy mạnh CNH, HĐH".

     Mục tiêu đề cao công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đại hội X: "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển". Đại hội đã phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, chỉ rõ những cơ hội và thách thức, đánh giá giai đoạn 2006-2010 có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 và xác định mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế 5 năm (2006-2010). Đó là: "Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".

     Đại hội XI với chủ đề "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại", Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X...

     Để thực hiện các mục tiêu trên, Đại hội đã nêu ra 8 phương hướng cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có phương hướng về "đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN".

     2.2. Về nội dung cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa

     Đại hội VI xác định là tập trung thực hiện ba Chương trình: 1) Chương trình về lương thực - thực phẩm với mục tiêu bảo đảm đủ lương thực cho toàn xã hội và có lương thực dự trữ, đáp ứng ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm; 2) Chương trình hàng tiêu dùng với mục tiêu đáp ứng được nhu cầu bình thường của nhân dân về những sản phẩm công nghiệp thiết yếu; 3) Chương trình xuất khẩu với mục tiêu tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu. Cùng với những nhiệm vụ trọng tâm này, Đại hội cũng xác định nhiệm vụ chú trọng phát triển giao thông vận tải, thông tin liên lạc và các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

     Đại hội VII xác định là phát triển nông nghiệp và nông thôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Đảng ta khẳng định "Từ nay đến cuối thập kỷ, phải rất quan tâm đến CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản".

     Đại hội VIII xác định nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập kỷ 1990 là:

     - Đặc biệt coi trong CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.

     - Phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

     - Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển.

     - Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường.

     - Mở rộng thương nghiệp, du lịch và dịch vụ.

     - Phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghiệp.

     Đại hội IX xác định nội dung CNH, HĐH qua những nội dung về phương hướng, nhiệm vụ phát triển các ngành kinh tế, các lĩnh vực xã hội và định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH.

     Đại hội X xác định: Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất; tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng; phát triển rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản; phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

     Đại hội XI xác định: "Thực hiện CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính chất nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới. Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng, miền; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

     3. Đánh giá tổng quát về nhận thức của Đảng đối với vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước qua gần 30 năm đổi mới

     3.1. Nhận thức về bối cảnh, yêu cầu và mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; về tiền đề và điều kiện thực hiện

     Bối cảnh quốc tế và khu vực

     Xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và ngày càng sâu rộng trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI này. Với việc gỡ bỏ các hàng rào thương mại và đầu tư, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghệ thông tin, đã làm thay đổi phương thức sản xuất trên thế giới. Các công ty đa quốc gia gia tăng đáng kể hoạt động đầu tư, sản xuất tại các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ, nhằm tận dụng lợi thế về quy mô thị trường, nguồn nhân lực dồi dào và nguồn nguyên liệu đầu vào chi phí thấp. Tình trạng các doanh nghiệp chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài tại các nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ và ở Châu Âu có xu hướng diễn ra ngày càng mạnh, gây áp lực về việc làm tại các nước này, nhưng mang lại cơ hội tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài cho các nước đang phát triển.

     Bối cảnh trong nước

     Giai đoạn 2000-2010 đánh dấu nhiều cột mốc lịch sử về kinh tế, thương mại của Việt Nam. Năm 2000, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước. Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đây là bước ngoặt lớn trong tiến trình Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới. Năm 2008, với mức GDP bình quân đầu người đạt trên 1.000 USD, Việt Nam thoát khỏi nhóm các nước nghèo và gia nhập nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp.

     Trong 10 năm, mặc dù kinh tế thế giới có nhiều biến động, Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 7%/năm, trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ hai tại Châu Á, sau Trung Quốc. Cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn này cũng chuyển dịch đáng kể theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP. Mặc dù tỷ trọng nông nghiệp giảm, nhưng trong giai đoạn này, Việt Nam lại trở thành nước xuất khẩu nông sản (hạt tiêu, hạt điều, cà phê, gạo) hàng đầu thế giới.

     Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng và dưới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhiều yếu kém của nền kinh tế đang dần lộ ra. Vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế, lựa chọn mô hình tăng trưởng mới, tái cơ cấu công nghiệp... đang trở nên cấp bách nhằm phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của Việt Nam để có thể phát triển ổn định, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, và thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực.

     3.2. Nhận thức về bản chất kinh tế - xã hội; về đặc điểm, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (đặt trong các mối quan hệ giữa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội)

     * Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quan hệ sản xuất phù hợp

     Nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, trong việc hoàn thiện quan hệ sản xuất, ngoài việc thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, Đảng tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt đến quan hệ sở hữu và quan hệ tổ chức quản lý trong việc xác định phương hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế.

     - Về vấn đề sở hữu, Đảng xác định yêu cầu "Tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước... quy định rõ quyền, trách nhiệm của các chủ sở hữu đối với xã hội.

     - Trong nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Đảng ta tiếp tục đề cập vấn đề "Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường" với các nội dung: phát triển đa dạng, đồng bộ, ngày càng văn minh, hiện đại các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ; tiếp tục hoàn thiện thể chế về tiền tệ, tín dụng và ngoại hối, từng bước mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nước và cam kết quốc tế;

     * Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vai trò quản lý của Nhà nước và các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

     Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là xây dựng, phát triển nền kinh tế theo hướng trở thành một nước công nghiệp ngày càng hiện đại. Sự biến chuyển mạnh mẽ đó về kinh tế có tác động và ảnh hưởng đến các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

     - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với đô thị hóa đã từng bước thay đổi về những vấn đề xã hội. Cùng với chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi trong cơ cấu dân cư. Cư dân đô thị tăng lên, lực lượng lao động và cư dân trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, vùng kinh tế không ngừng tăng lên.

     - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với việc đề ra và thực hiện chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo, chiến lược phát triển khoa học - công nghệ và chiến lược phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

     - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là đẩy mạnh phát triển kinh tế và gắn liền với củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh. Kinh tế mạnh, công nghiệp phát triển, khoa học - công nghệ ở trình độ cao là cơ sở quan trọng để tăng cường quốc phòng, an ninh.

     - Chức năng và vai trò quản lý của bộ máy Nhà nước cả ở Trung ương và địa phương có vai trò to lớn trong thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quản lý ở tầm vĩ mô với kế hoạch, quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực công nghiệp và khoa học - công nghệ trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; với hệ thống vốn vay và vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài để phát triển công nghiệp và các công trình trọng điểm, sử dụng có hiệu quả vốn vay nước ngoài (ODA) và nguồn tài nguyên của đất nước, tránh lãng phí, thất thoát và xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

     3.3. Cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

     - Về cơ cấu vùng kinh tế: có sự chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh và quan tâm hỗ trợ các vùng còn nhiều khó khăn. Ba vùng kinh tế trọng điểm đã phát triển với tốc độ cao hơn mức bình quân của cả nước, hiện chiếm 60% GDP của cả nước, dần phát huy lợi thế so sánh, bước đầu có vai trò thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển.

     - Về chuyển dịch cơ cấu đầu tư có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ tiết kiệm trọng nước so với GDP tăng khá nhanh, nguồn vốn tích lũy trong nước đã được khai thác tốt hơn, chiếm trên 60% tổng vốn đầu tư. Mặt khác, cũng huy động được nhiều vốn bên ngoài cho đầu tư phát triển. Đã hướng mạnh hơn đầu tư vào các mục tiêu chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; bổ sung thiết bị và hiện đại hóa một số ngành công nghiệp; xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất; xây dựng kết cấu hạ tầng; đầu tư phát triển nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo - nhất là ở vùng núi, vùng khó khăn".

     3.4. Những hạn chế, vướng mắc, những vấn đề lớn đang đặt ra trong nhận thức lý luận về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

     - Công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành ở Trung ương và các cấp chính quyền địa phương còn nhiều bất cập, thiếu ráo riết, thiếu kiểm tra, đôn đốc và chưa có sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao.

     - Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và thiên tai nặng nề trên nhiều miền của đất nước, cũng gây ra nhiều khó khăn cho nền kinh tế nước ta, làm chậm quá trình phát triển, gây trở ngại cho việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

     - Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, chưa hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Một số vấn đề văn hóa - xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết, như: tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở mức cao, chất lượng giáo dục - đào tạo thấp; mê tín, hủ tục tăng; các tệ nạn ma túy, mại dâm chưa bị đẩy lùi, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, tình trạng khiếu kiện của nhân dân chưa được giải quyết kịp thời... Tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu kéo dài, một số cán bộ, đảng viên sa đọa, biến chất, thoái hóa về tư tưởng, đạo đức, lối sống.

     - Mô hình kinh tế hướng nội trong thời gian dài bắt đầu CNH, HĐH, chú trọng phát triển các ngành thay thế nhập khẩu hơn là xây dựng các ngành xuất khẩu dựa trên lợi thế động; tăng trưởng kinh tế dựa vào vốn đầu tư, chú trọng phát triển các ngành sử dụng nhiều vốn hơn là dùng lao động có năng suất cao, đặc biệt là trong đầu tư nhà nước, khu vực DNNN.

     - Tăng trưởng của nền kinh tế chủ yếu dựa vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng dựa vào vốn đầu tư. Trong công nghiệp, tỷ lệ gia tăng trong tổng giá trị sản xuất chỉ đạt 38-40%. Chi phí trung gian chiếm tỷ trọng cao làm giảm tỷ trọng gia tăng thêm trong tổng giá trị sản xuất.

     - Tư duy về phát triển kết cấu hạ tầng chậm đổi mới, chưa phù hợp với cơ chế thị trường; nguồn lực đầu tư vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, chưa huy động được nhiều nguồn lực ngoài nhà nước, chưa tạo được sự ủng hộ mạnh mẽ và chia sẻ trách nhiệm của toàn dân.

     - Đường lối chính sách phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước chưa được quán triệt đầy đủ và chậm được triển khai trong thực tiễn: Quan điểm KH&CN là nền tảng và động lực phát triển đất nước đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng nhưng trên thực tế chưa được các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt đầy đủ và triển khai trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CN chậm được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật; việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách thiếu kiên quyết nên kết quả còn hạn chế.

     - Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nhân trước hết là do những sơ hở, lỏng lẻo và yếu kém của hệ thống các quy định pháp luật và công tác quản lý nhà nước; do đội ngũ doanh nhân nước ta mới hình thành và phát triển, chưa có tích lũy nhiều về vốn, tri thức, công nghệ và kinh nghiệm, truyền thống kinh doanh.

     - Tư duy về giáo dục chậm đổi mới, không theo kịp sự phát triển của đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chính sách giáo dục, đào tạo chưa tạo được động lực, huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội.

     - Việc đặt ra mục tiêu phát huy thế mạnh của các vùng kinh tế trọng điểm để tạo động lực thúc đẩy kinh tế vùng, nhưng trên thực tế, các tỉnh trong vùng thường cạnh tranh với nhau trong thu hút đầu tư, lựa chọn phát triển ngành ưu tiên, mũi nhọn của tỉnh/thành phố mà không có sự hợp tác, phân chia theo thế mạnh, năng lực của từng địa phương.

     - Chính sách phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam những năm qua đã bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP và tăng trưởng xuất khẩu toàn cầu nhưng chưa vững chắc. Độ mở của nền kinh tế qua kênh xuất khẩu khá lớn nhưng quy mô xuất khẩu còn nhỏ, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người thấp hơn mức bình quân toàn thế giới.

     - Công tác quy hoạch nguồn nhân lực công nghiệp chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng đào tạo của hệ thống các trường trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu, khiến nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân viên của họ với chi phí cao để đáp ứng yêu cầu công việc. Hiện tượng thường xuyên vi phạm, đầu tư phá vỡ quy hoạch tại các địa phương mà không có ý kiến thẩm định của các bộ chuyên ngành, là nguyên nhân chính gây nên những mất cân đối nghiêm trọng về cung cầu sản phẩm, về cung ứng nguồn nhân lực và phá vỡ sự liên kết giữa các vùng và các địa phương, cũng như những hệ lụy về môi trường đã xảy ra trong thời gian vừa qua.

     4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình hoạch định chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

     - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phải được đặc biệt chú trọng để nâng cao năng suất lao động của nhóm ngành này, để rút bớt lao động sang làm công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.

     - Hội nhập quá nhanh khi doanh nghiệp trong nước chưa có sự chuẩn bị kỹ càng có thể sẽ khiến ngành công nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào doanh nghiệp FDI mà không xây dựng được các doanh nghiệp trong nước vững mạnh.

     - Công tác xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp theo các chuyên ngành và theo vùng lãnh thổ còn chưa được thống nhất trong nhận thức và cách làm của các nhà lãnh đạo các cấp và các cơ quan, chuyên gia trực tiếp lập quy hoạch.

     - Sự lựa chọn mô hình công nghiệp hóa nhanh, rút ngắn vẫn luôn đặt ra như một bài toán khó cần tìm lời giải: chúng ta lựa chọn công nghiệp mũi nhọn nào mà không phải dàn trải khi nguồn lực có hạn; chúng ta cần tập trung phân bố nguồn lực hợp lý như thế nào để tạo ra được ngành công nghiệp có sức lan tỏa mạnh; công nghiệp hỗ trợ cũng cần được nêu ra cụ thể cho mỗi địa phương, mỗi ngành xem công nghiệp hỗ trợ nào cần được đầu tư đẩy mạnh.

     - Cần chú trọng liên kết kinh tế trong các vùng kinh tế, nhất là vùng kinh tế trọng điểm. Khi xây dựng chương trình cần phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các nước cũng như quy hoạch của từng ngành. Nội dung liên kết vùng cần đề ra trong tất cả các lĩnh vực, kinh tế, xã hội, doanh nghiệp, nông dân, xử lý môi trường.

     * Trích báo cáo Tổng kết 30 năm đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước của Bộ Công thương.

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Sự xung đột của các tư tưởng kinh tế - Tác giả: Lawrence H.White

- Tại sao cần đọc các tác phẩm cổ điển về kinh tế? - Tác giả: Peter J. Boettke

- Sự đụng độ của các định nghĩa - Tác giả: Edward Said - Biên dịch: Lê Nguyên Long

- Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học - Tác giả: Dani Rodrik - Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Hai hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law - Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn

- Chủ nghĩa hiện thực tân cổ điển và các lý thuyết về chính sách đối ngoại - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Ánh | Hiệu đính: Trương Minh Huy Vũ

- Phân tích chính sách đối ngoại - Biên dịch: Đào Tuấn Ninh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Mối quan hệ biện chứng nội sinh và ngoại sinh tạo thành sức mạnh của dân tộc và của sự phát triển - Tác giải: GS.TS. Đinh Xuân Dũng