Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền qua 30 năm đổi mới của Việt Nam - Tác giả: GS.TS Lê Hữu Nghĩa

25/08/2015 01:29

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN

QUA 30 NĂM ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM

GS.TS. Lê Hữu Nghĩa

Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương

Theo: Lý luận và Thực tiễn

Số: 12 tháng 8 năm 2014

 

     Thay mặt Thường trực Hội đồng lý luận Trung ương tôi xin phát biểu một số ý kiến có tính chất gợi mở để các đồng chí chúng ta cùng nhau trao đổi, thảo luận, bám sát chủ đề Hội thảo: “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn Đảng cầm quyền” qua 30 năm đổi mới của Việt Nam.

     1. Quan niệm về Đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa lạnh đạo và cầm quyền của Đảng

     Đảng cầm quyền là Đảng chính trị, nắm được chính quyền Nhà nước, nhờ đó khẳng định quyền lực của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, chi phối trực tiếp và quyết định sự phát triển của đất nước thông qua việc thực hiện Cương lĩnh đường lối, chính sách của Đảng trong thực tiễn.

     Đảng cầm quyền là một vấn đề có tính phổ biến trên thế giới hiện nay, mọi nước, mọi chỉnh thể, ở mọi quốc gia - dân tộc.

     Trong lịch sử chính trị thế giới hiện đại, có hai chính đảng điển hình thực thi vai trò cầm quyền, đó là đảng chính trị của giai cấp tư sản trong nước các nước tư bản chủ nghĩa và đảng chính trị của giai cấp công nhân trong các nước xã hội chủ nghĩa.

     Bản chất giai cấp là một thuộc tính căn bản của đảng chính trị. Khi ở vào vị trí đảng cầm quyền, đảng không chỉ thực hiện quyền lực và bảo vệ lợi ích của giai cấp mà còn phải biểu hiện mình là địa biểu cho lợi ích chung của xã hội, thể hiện ý chí, quyền lực và lợi ích chung của toàn xã hội.

     Thực hiện điều đó đối với đảng cầm quyền là một đòi hỏi tất yếu, bởi không có cơ sở xã hội từ dân chúng, từ sự ủng hộ của đông đảo cử tri thì đảng chẳng những không xác lập được vị thế quan trọng trong hoạt động tham chính (tham gia vào đời sống chính trị) mà còn không có được ưu thế để trở thành đảng cầm quyền và thực thi vai trò cầm quyền của mình.

     Đây là trường hợp của đảng chính trị tư sản, thường gắn ó với mô hình chính thể đa đảng. Đảng tư sản cầm quyền phải thường xuyên đối diện với đảng đối lập, với các đảng phái và các lực lượng tham chính khác. Đảng chính trị của gia cấp công nhân với những tên gọi khác nhau (Đảng Cộng sản, Đảng lao động, Đảng xã hội chủ nghĩa) sau thắng lợi của cuộc cách mạng chính trị, giành chính quyền đã chính thức trở thành đảng cầm quyền.

     Nếu sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã có lịch sử mấy trăm năm thì chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội kiểu mới, mới chỉ có lịch sử chưa đầy một thế kỷ, kể từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917.

     Nếu đảng chính trị tư sản (cũng với tên gọi khác nhau, như Đảng Dân chủ, Đảng Cộng hòa ở Mỹ) đã từng cầm cầm quyền trong một thời gian dài, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm chính trị cầm quyền trong tiến trình phát triển của chủ nghĩa tư bản thì Đảng Cộng sản cầm quyền mới chỉ bắt đầu từ sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917 với sự ra đời của nước Nga Xô Viết và sau đó là một loạt nước Đông Âu và châu Á từ sau chiến tranh thế giới thứ II.

     Sau hơn 7 thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội, vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, chính biến đã xảy ra ở Liên Xô và hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Đông Âu. Đảng Cộng sản mất vai trò càm quyền, thể chế Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa đổ vỡ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn tồn tại, trật tự thế giới hai cực đối đầu Xô - Mỹ thay đổi, trở thành đa cực, đa trung tâm với vai trò thao túng của Mỹ. Chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào một cuôc khủng hoảng trầm trọng, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, dù là tạm thời nhưng diễn biến phức tạp, đầy khó khăn, thử thách. Từ thời điểm đó cho đến nay, trên thế giới chỉ còn một số ít các nước xã hội chủ nghĩa và các đảng cộng sản cầm quyền. Các nước, các đảng này đều phải thông qua cải cách, đổi mới để tồn tại và phát triển. Đó là trường hợp của Trung Quốc (cải cách năm 1978), Việt Nam và Lào (đổi mới năm 1986), gần đây là Cu Ba. Có một mối tương quan biện chứng giữa thực tiễn đổi mới và sự hình thành và phát triển nhận thức lý luận mới về chủ nghĩa xã hội, trong đó có lý luận về Đảng Cộng sản cầm quyền.

     Đảng Cộng sản cầm quyền, nhất là trong điều kiện chỉ có một đảng duy nhất cầm quyền, có nhà nước pháp quyền, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập quốc tế trong thế giới toàn cầu hóa như trường hợp của Việt Nam hiện nay là một vấn đề lý luận mới mẻ, phức tạp, cần phải nghiên cứu, chú trọng gắn liền nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn. Có một hực tế là vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền chưa được cắt nghĩa đầy đủ, thấu đáo về mặt lý luận trong di sản kinh điển mác-xít.

     Thời của Mác và Ăngghen, Đảng Cộng sản còn tồn tại dưới hình thức Liên đoàn, các ông đã soạn thảo tác phẩm nổi tiếng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1948) được đánh giá là Cương lĩnh chính trị của phong trào công nhân nhưng Đảng Cộng sản chưa giành được chính quyền và chưa cầm quyền. Mác và Ăngghen chỉ duy nhất chứng kiến sự kiện công xã Pari, nhưng công xã- hình thái chính quyền đầu tiên, của giai cấp công nhân cách mạng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn 72 ngày rồi thất bại. Các ông chưa có và cũng không thể có những dữ kiện thực tế để bàn tới lý luận Đảng Cộng sản cầm quyền. Đến cách mạng tháng Mười Nga, năm 1917, với sự ra đời của nước Nga Xô Viết, Đảng Cộng sản đã cầm quyền nhưng Lênin chỉ trực tiếp lãnh đạo Đảng và Nhà nước Xô viết trong một thời gian ngắn, được 7 năm (1917–1924) thì qua đời. Những kiến giải của Lênin về bản chất của Đảng, về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, về Đảng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước đã đặt nền móng cho việc xây dựng lý luận về Đảng cầm quyền mà Ông gọi là Đảng chấp chính. Từ thực tiễn cải cách kinh tế, xây dựng Đảng lãnh đạo và cầm quyền trong bối cảnh của NEP, Lênin đã có những chỉ dẫn quan trọng về tổ chức Đảng, phẩm cách đảng viên, mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng… Ông cũng cảnh báo nghiêm khắc về những kẻ thù nguy hiểm: bệnh kiêu ngạo cộng sản, tệ quan liêu nhà nước và nạn hối lộ như những độc tố có thể giết chết sự sống của Đảng, làm cho chủ nghĩa xã hội như một mầm non mới nhú, còn yếu ớt, có thể thất bại. Những kẻ thù nguy hiểm đó, đặt Đảng và sự nghiệp chủ nghĩa xã hội do Đảng lãnh đạo trước những nguy cơ lớn. sau khi Lênin mất và trong thời gian dài mấy thập kỷ, trong đời sống của chủ nghĩa xã hội hiện thực, trong nội bộ các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội  chủ nghĩa sau này, những cảnh báo và nguy cơ do Lênin đưa ra đã không được khắc phục, từ đó góp phần cùng với nhiều nguyên nhân khác dẫn đến làm sụp đổ cả chế độ, làm tan rã cả hệ thống.

     Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Đảng cầm quyền”. “Trong Di chúc”, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi cán bộ và đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải gìn giữ Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người nhấn mạnh Đảng cầm quyền có trách nhiệm rất lớn đối với đất nước, với cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đảng phải lo từ việc lớn như phát triển kinh tế, văn hóa… đến những việc nhỏ như tương, cà, mắm, muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân.

     Tuy vậy, cho đến nay, trên nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn, liên quan trực tiếp tới công tác xây dựng Đảng, nhất là khi Đảng đã cầm quyền vẫn chưa có được nhận thức thấu đáo và càng chưa được xử lý đúng, lại chậm đổi mới trong thực tiễn. Đó là nhận thức về mối quan hệ giữa lãnh đạo và cầm quyền, quan hệ giữa Đảng với Nhà nước do Đảng lãnh đạo về chức năng và nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm, về mô hình hệ thống tổ chức các cơ quan Đảng với hệ thống tổ chức các cơ quan nhà nước, về nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng và trong quản lý của Nhà nước. Cũng như vậy, quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức, đoàn thể nhân dân cũng còn nhiều điểm chưa rõ, dẫn đến những lúng túng trong giải quyết thực tiễn, làm hạn chế dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, trong đó có vấn đề nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Nhà nước, giám sát và kiểm soát quyền lực.

     Thực tiễn đã cho thấy, Đảng Cộng sản lãnh đạo và cầm quyền là khác nhau trong những điều kiện lịch sử khác nhau.

     Lãnh đạo thuộc về vai trò và trọng trách của Đảng, để thực hiện sứ mệnh lịch sử của Đảng, đối với giai cấp công nhân và nhân dân, dân tộc.

     Đảng ra đời và thực hiện vao trò lãnh đạo của mình đối với phong trào cách mạng là một tất yếu lịch sử. Lãnh đạo của Đảng diễn ra trong cách mạng giải phóng dân tộc, khi Đảng và nhân dân chưa giành được chính quyền. Để  giành lấy chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng lãnh đạo toàn dân đấu tranh lật đổ chính quyền của đế quốc thực dân và phong kiến. Đó là mục tiêu trực tiếp của lãnh đạo của Đảng. Khi đó, Đảng lãnh đạo nhưng Đảng chưa cầm quyền.

     Đến khi cuộc cách mạng chính trị giành quyền lực về tay nhân dân do Đảng lãnh đạo đã thắng lợi, đánh đổ quyền thống trị cũ, xác lập quyền lực của nhân dân trong một Nhà nước kiểu mới thì từ đây, Đảng trở thành Đảng cầm quyền, đó là Đảng lãnh đạo trong điều kiện Đảng và nhân dân đã có chính quyền trong tay mình. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Ở đây Đảng lãnh đạo đồng thời cầm quyền. Lãnh đạo thống nhất với cầm quyền. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng Cộng sản cầm quyền là đảng đã giành được chính quyền, xây dựng và sử dụng chính quyền làm công cụ mạnh mẽ, sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong quá trình lãnh đạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     Lãnh đạo biểu hiện qua cầm quyền, thông qua cầm quyền để thực thi vai trò lãnh đạo, thực hiện sứ mệnh, mục tiêu, lý tưởng của Đảng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân, dân tộc.

     Một trong những vấn đề căn bản nhất để thực hiện vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng là làm thế nào để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng đồng thời nâng cao cả năng lực và bản lĩnh cầm quyền của Đảng trong điều kiện đã có chính quyền, trong bước chuyển của tình hình, nhiệm vụ mới với những yêu cầu mới xuất hiện, với những vấn đề mới đặt ra trên con đường phát triển của cách mạng, thuận lợi đan xen cùng khó khăn, thời cơ đi liền với thách thức.

     2. Từ lãnh đạo đến cầm quyền - bước ngoặt của phát triển và những nguy cơ đặt ra đối với Đảng Cộng sản

     Từ lịch sử đấu trang cách mạng của Đảng ta và thực tiễn đổi mới do Đảng lãnh đạo, có thể nhận thấy lãnh đạo và cầm quyền có cùng mục tiêu, cùng thể hiện bản chất của Đảng Cộng sản.

     Trong cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế quốc thực dân phong kiến, khi Đảng lãnh đạo mà chưa cầm quyền, Đảng phải hoạt động bí mật. Cán bộ đảng viên được dân nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ trong hoàn cảnh hoạt động bất hợp pháp, bị kẻ thù vây lùng, đàn áp hết sức tàn khốc.

     Chính quần chúng nhân dân đã hy sinh cả sương máu của mình để bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng.

     Không có dân thì Đảng không thể tồn tại. Không có Đảng thì dân không có người lãnh đạo để thực hiện lý tưởng, mục tiêu giải phóng. Sự gắn bó máu thịt này giữa Đảng với dân là một yếu tố tự nhiên của sinh tồn và phát triển của Đảng, của dân. Khi cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, quyền lợi thống trị cũ bị xóa bỏ, chính quyền cách mạng được thiết lập, quyền lực đã thuộc về nhân dân. Từ đây Đảng lãnh đạo và cấm quyền. Đảng cầm quyền thông qua Nhà nước nên Nhà nước, một cách tất yếu phải do Đảng lãnh đạo. ở vào vị thế Đảng cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng chính trị giành chính quyền, đối với Đảng là một bước ngoặt của phát triển. Bước ngoạt ấy đánh dấu sự trưởng thành của Đảng. Đảng không chỉ lãnh đạo xã hội mà còn lãnh đạo Nhà nước. Vai trò lãnh đạo của Đảng được Hiến pháp hiến định, được thể chế hóa, đảm bảo quyền lực chính trị và địa vị pháp lý của Đảng trong Nhà nước và xã hội. Trở thành đảng cầm quyền, trọng trách của Đảng trước dân tộc nặng nề hơn, Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, nhiệm vụ của Đảng trở nên rộng lớn, phức tạp hơn; nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng cũng phải thay đổi cơ bản, Đảng phải chịu sự giám sát của nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước mà phải tôn trọng, phát huy vai trò của Nhà nước. Các tổ chức của Đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.

     Điều kiện hoạt động và nhiệm vụ chính trị của Đảng thay đổi căn bản.

     Đảng cầm quyền, hoạt động công khai, hợp pháp nên tư tưởng, đường lối, nghị quyết của Đảng được truyền bá nhanh chóng trong xã hội. Đó là một thuận lợi rất to lớn để Đảng phát huy ảnh hưởng sâu rộng của mình đối với xã hội.

     Cán bộ đảng viên của Đảng được bố trí vào các cương vị chủ chốt trong bộ máy của Đảng, Nhà nước. Mặt trận và các đoàn thể.

     Quan hệ quốc tế của Đảng do chỗ Đảng đã cầm quyền nên cũng có điều kiện không ngừng được mở rộng. Cùng với những thuận lợi đó, khi cầm quyền, Đảng cũng đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức và nguy cơ.

     Nổi bật là những nguy cơ sau đây:

     - Nguy cơ sai lầm về đường lối;

     - Sự tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên;

     - Bênh quan liêu, xa rời nhân dân, mất dân chủ với nhân dân.

     Lênin và Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo những nguy cơ đó.

     Những nguy cơ đó làm cho Đảng suy yếu, mất sức sống, mất khả năng tự bảo vệ.

     Những nguy cớ đó, trên thực tế đã từng xảy ra ở không ít nơi mà sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu, Đảng Cộng sản mất vai trò cầm quyền là những bài học phải trả giá đau xót.

     Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh nguyên nhân sâu xa, dẫn tới tình trạng đó là chủ nghĩa cá nhân, là giặc nội xâm. Cho nên, vào cuối đời, nỗi bận tâm lớn nhất của Người vẫn là “ra sức quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Từ nhiều năm nay, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là vì vậy, vì sự tồn vong của chế độ và sứ mệnh của Đảng.

     3. Lãnh đạo và cầm quyền của Đảng trong thời kỳ đổi mới

     Là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, quan điểm, Nghị quyết của Đảng thành luật pháp và chính sách, đảm bảo cho luật pháp, chính sách của Nhà nước thể hiện đúng quan điểm, đường lối của Đảng, được thực hiện trong cuộc sống, phục vụ cuộc sống của người dân và làm cho nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình. Nhà nước là một tổ chức quyền lực, thể hiện sức mạnh quyền lực của nhân dân, do dân ủy thác nhưng Nhà nước lại đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, chịu sự lãnh đảo của Đảng.

     Đảng cầm quyền được hiểu theo nghĩa chỉ thông qua Nhà nước, Đảng mới thực hiện được vai trò lãnh đạo, cầm quyền của mình. Do đó, một cách tự nhiên và tất yếu, Đảng phải đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng Nhà nước vững mạnh về mọi mặt.

     Song, trong xã hội mà nhân dân là chủ và làm chủ thì Đảng cũng như Nhà nước và các tổ chức, đoàn thể đều chỉ vì dân mà tồn tại và hoạt động. Nhân dân không chỉ ủy thác quyền lực của mình cho Đảng, Nhà nước, cho các tổ chức, đoàn thể của mình mà còn phải kiểm soát xem quyền lực được ủy thác có theo đúng mục đích ủy thác hay không?

     Mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước với Nhân dân, có thể nói là quan hệ tổng quát, bao trùm tất cả mọi hoạt động trong đời sống xã hội, tác động và chi phối từ tổ chức đến nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, trước hết tới hai thiết chế chính trị quan trọng nhất là Đảng và Nhà nước, trong điều kiện Đảng cầm quyền. Thực thi trọng trách lãnh đạo và cầm quyền vì dân, nên Đảng phải giải quyết thành công mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước và lãnh đạo thành công việc xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, làm cho dân chủ thực sự là mục tiêu và động lực của phát triển xã hội. Đây là vấn đề cốt lõi, bản chất của lý luận Đảng Cộng sản cầm quyền.

     Đảng lãnh đạo và cầm quyền vì dân nên việc thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vừa thể hiện quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, vừa phản ánh sứ mệnh lịch sử, trách nhiệm chính trị cao nhất của Đảng trước dân tộc và nhân dân, cũng đồng thời là sự thống nhất nhận thức, ý chí, hành động của Đảng - Nhà nước với nhân dân. Đó là con đường, là điều kiện đảm bảo cho hệ giá trị phát triển bền vững của Việt Nam được thực hiện: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

     Trước đổi mới, nhất là trong thời kỳ chiến tranh, nỗ lực cao nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải huy động cho việc thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc đánh bại mọi kẻ thù xâm lược nên mô hình tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, cũng như hoạt động quản lý của Nhà nước bị chi phối bởi chính những đặc điểm, những điều kiện lịch sử đó. Trước đổi mới, mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta lại chịu ảnh hưởng bởi mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phương thức quản lý theo kiểu hành chính mênh lệnh, bao cấp và phân phối bình quân, có không ít nhược điểm, khuyết tật.

     Trong những hoàn cảnh lịch sử đó, mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm như tình trạng bao biện, làm thay giữa các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, chế dộ trách nhiệm không rõ ràng, coi nhẹ pháp luật, dân chủ còn nhiều hạn chế. Tình trạng Đảng vừa bao biện làm thay Nhà nước lại vừa buông lỏng kiểm tra, giám sát đã dẫn đến những hạn chế hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, dẫn tới sự thụ động, ỷ lại trong Nhà nước, làm cho Nhà nước không mạnh, không có thực lực và thực quyền. Tập trung quan liêu tạo ra sức ỳ, sự trì trệ, xơ cứng trong tổ chức và hoạt động trong Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị nói chung. Do đó, bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là hiện nay, việc đổi mới hệ thống chính trị, đặc biệt là đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước để đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trở nên bức xúc hơn bao giờ hết.

     Đổi mới ở nước ta qua thực tế diễn ra gần 30 năm nay, dưới tác động của các nhân tố: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế. Kinh tế thị trường càng phát triển, hội nhập quốc tế càng sâu rộng càng đòi hỏi một nhà nước pháp quyền mạnh, quản lý có hiệu lực, hiệu quả, càng đòi hỏi phải phát triển dân chủ, gắn liền dân chủ với pháp luật, kỷ luật, kỷ cương, xã hội, dân chủ hóa đồng thời là pháp chế hóa, làm cho mọi lực lượng, mọi tổ chức, mọi người đều phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng pháp quyền, quyền và lợi ích gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận và vấn đề kiểm soát quyền lực phải được thực hiện thông qua một hệ thống cơ chế và chế tài minh bạch, nghiêm ngặt và nhất quán.

     Đi vào kinh tế thị trường, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, vai trò của Nhà nước sẽ mạnh lên một cách tất yếu, nhất là khi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với vai trò tối thượng của pháp luật.

     Hoàn cảnh, điều kiện thay đổi đòi hỏi Đảng phải kịp thời thay đổi, phải đổi mới tư duy về lãnh đạo, cầm quyền, đổi mới mô hình tổ chức, nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền cho phù hợp, đồng thời cũng phải tính đến mô hình cầm quyền, những điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực và bản lĩnh cầm quyền của Đảng, nhất là trong điều kiện chỉ có một Đảng duy nhất cầm quyền thì làm sao phát huy mạnh mẽ dân chủ trong xã hội và trong Đảng.

     Quy tụ lại, trong tình hình mới trước yêu cầu mới, phải xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới Đảng như thế nào để Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Đảng muốn cầm quyền bền vững trường tồn thì Đảng phải trong sạch, vững mạnh, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức phải nâng cao sức chiến đấu của Đảng.

     Kinh tế thị trường làm cho lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế trở nên nổi bật, nổi bật, nổi trội trong các mối quan hệ. Sự liên kết lợi ích nhóm và nhóm lợi ích bất minh, bất chính xuất hiện từ sức mạnh của đồng tiền và sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, vị kỷ cùng với lối sống tiêu dùng, hưởng thụ, đề cao các giá trị vật chất, các tiện nghi sinh hoạt sẽ gia tăng một khi công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức bị xem nhẹ, nhất là hoạt động kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ của Đảng bị buông lỏng, yếu kém, sa sút.

     Hiện nay có một thực tế là hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chưa cao, tầm nhìn chiến lược, quyết sách còn nhiều hạn chế.

     Nhà nước do Đảng lãnh đạo nhưng do những hạn chế, yếu kém của việc kiểm tra, giám sát của các tổ chức Đảng đối với Nhà nước, của các đoàn thể và nhân dân nên đã để xảy ra rất nhiều sai phạm trong quản lý, điều hành dẫn tới lãnh phí, tham ô, tham nhũng, gây tổn hại lợi ích chung của xã hội và của người dân, làm tổn hai tới uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế dộ.

     Phần lớn cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền lại là đảng viên, do Đảng bố trí, sắp xếp theo các chức trách, vị trí công tác. Sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, kể cả cấp cao là vấn đề nghiêm trọng nhất trong những vấn đề bức xúc phải giải quyết hiện nay như Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI của Đảng đã chỉ ra.

     Do những cám dỗ của lợi ích vật chất, do được giao quản lý những khối tài sản lớn về kinh tế nhưng do yếu kém về năng lực và ý thức trách nhiệm, không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, những cán bộ thoái hóa biến chất đã lợi dụng những sơ hở của pháp luật, chính sách và cơ chế, những yếu kém buông lỏng kiểm tra, giám sát gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Để xảy ra tình trạng này, có trách nhiệm của Đảng, nhất là trách nhiệm trong công tác tổ chức và cán bộ, trong đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ, trong chính sách cán bộ.

     Tình hình đó càng cho thấy việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đang trở thành mắt khâu xung yếu của toàn bộ công tác xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

     Chìa khóa giải quyết vấn đề đặt ra vẫn là đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, vẫn là đẩy mạnh thực hành dân chủ, đề cao vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, nhất là vai trò của Nhân dân trong kiểm soát quyền lực, cũng như trong thực thi quyền lực Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường.

     Cần đảm bảo cho Đảng lãnh đạo và cầm quyền một cách có thực lực và thực quyền, nhất là trong chính trị và trong kinh tế, khi kinh tế thị trường đã ngày càng phát triển và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là rường cột của hệ thống chính trị.

     Việc hiến định trong Hiến pháp về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đã đảm bảo địa vị pháp lý cho sự tồn tại và thực hiện thẩm quyền của Đảng trong xã hội, đảm bảo tính chính danh, tính chính đáng của Đảng trong trọng trách lãnh đạo và cầm quyền.

     Song phải làm cho tính chính danh, tính chính đáng đó trở thành một sức mạnh thực tế, thực chất, hiệu quả, làm cho quyền lực, quyền uy của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được thực hiện. Thực hiện đòi hỏi này không phải vì Đảng mà vì trách nhiệm của Đảng trước dân tộc và Nhân dân, vì sự phát triển bền vững của chế độ, của đất nước, vì quyền sống, quyền tự do, hạnh phúc và làm chủ của Nhân dân.

     Do đó, Đảng lãnh đạo và cầm quyền phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái đang diễn ra ở trong Đảng. Đẩy mạnh chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, lối sống theo Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI  không chỉ luôn có tính thời sự, cấp bách mà còn là xuyên suốt, cơ bản và lâu dài. Đảng phải có sức mạnh tự bảo vệ, đó là thước đo về năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu vàn bản lĩnh cầm quyền của Đảng. Trong nội dung xây dựng Đảng, còn cần phải đặc biệt nhấn mạnh tới xây dựng Đảng về lý luận, nhất là phát triển lý luận về Đảng càm quyền - một lĩnh vực còn nhiều hạn chế; làm cho Đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ. Đột phá về lý luận là tiên đề, điều kiện cho sự phát triển vững mạnh của Đảng, cho sự phát triển xã hội trong đổi mới do Đảng lãnh đạo.

     Sâu xa hơn, Đảng lãnh đạo và cầm quyền phải có tiềm lực trí tuệ, tư tưởng để đủ sức thể hiện vai trò tiên phong dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc, của đất nước. Vì vậy, xây dựng Đảng về văn hóa, nhất là văn hóa trong chính trị, văn hóa đạo đức ở trong Đảng, làm cho nó trở thành văn hóa lãnh đạo, cầm quyền, xứng đáng là một Đảng tiêu biểu cho đạo đức và văn minh như Hồ Chí Minh đã thường chỉ dẫn, có tầm quan trọng chiến lược, sống còn với Đảng ta. Thực lực và thực quyền của Đảng chính là được sinh từ sức mạnh nội sinh của Đảng, là những giá trị văn hóa tinh hoa của trí tuệ, tư tưởng, đạo đức của Đảng, của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, nhất là ở cấp đầu não, chiến lược. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh, cầm quyền của Đảng còn bắt nguồn từ sức mạnh đoàn kết, thống nhất của toàn Đảng. Tạo ra sức mạnh đó là kết quả tổng hợp của công tác giáo dục và công tác tổ chức, mang trách nhiệm trước hết là của các cấp ủy, của cơ quan lãnh đạo cấp cao.

     Quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, chất lượng và hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới là nhân tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định làm cho lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có được sức mạnh vững bền.

     Theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, nếu có dân giác ngộ, dân hiểu biết và dân tin tưởng, dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ Đảng thì Đảng ắt thành công.

     Do đó, niềm tin, tình cảm, trách nhiệm của dân đối với Đảng, là một chỉ báo xã hội vô cùng quan trọng để bảo đảm và củng cố địa vị lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Trong tình hình hiện nay, toàn Đảng, từng tổ chức Đảng, từng cán bộ đảng viên làm việc trong các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương và cơ sở phải cùng đề cao trách nhiệm trong việc khôi phục và củng cố niềm tin của dân đối với Đảng.

     Cách tốt nhất để làm tăng lên niềm tin của Nhân dân với Đảng là ra sức phát triển kinh tế và văn hóa, triệt để thực hành tiết kiệm, kiên quyết chống lãng phí, tham ô, tham nhũng để bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân. Thực hành dân chủ thường xuyên, ở khắp mọi nơi, càng ở cơ sở - nơi gần dân nhất, sát dân nhất, cán bộ đảng viên càng phải chú trọng thực hành này theo phương châm nói ít làm nhiều, nói đi đôi với làm, nêu cao tính tiên phong gương mẫu, “làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân”, làm cho dân tin, dân theo, dân kiểm nghiệm, đánh giá bằng kết quả thực tế, kiểm chứng được.

     Vào lúc này, gia tăng niềm tin của dân đối với Đảng cần thiết, quý giá không kém tăng trưởng kinh tế, hơn thế nữa, chính niềm tin của dân với Đảng còn là một thước đo giá trị văn hóa của Đảng, là động lực tinh thần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy phát triển bền vững.

     Ngoài những điều nói trên, muốn cho Đảng lãnh đạo, cầm quyền có thực lực và thực quyền, tỏ rõ trong thực tế năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu và bản lĩnh cầm quyền của Đảng, phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo tinh thần khoa học hóa, dân chủ hóa, hiện đại hóa, gắn chặt chính trị với đạo đức và luật pháp.

     - Cần coi trọng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác lý luận tư tưởng, đảm bảo cho Đảng thực sự tiên phong về lý luận, đảm bảo cho Đảng không những không phạm sai lầm mà còn không lạc hậu trong lãnh đạo, trong đường lối, phương hướng và quyết sách chính trị. Cùng với điều đó, phải đặc biệt chú trọng và và đẩy mạnh đổi mới về tổ chức bộ máy cả trong hệ thống Đảng, hệ thống Nhà nước, tức là các tổ chức công quyền, hệ thống các tổ chức đoàn thể xã hội của dân, làm cho hệ thống tổ chức được tinh giản, gọn nhẹ mà có hiệu quả nhờ có những đổi mới về nội dung hoạt động và chất lượng cán bộ, công chức được nâng cao. Do đó, phải đổi mới căn bản công tác tổ chức cán bộ và chính sách cán bộ, làm cho tổ chức bộ máy hợp lý, ngày càng có nhiều chuyên gia giỏi tham gia vào công tác xây dựng thể chế, hoạch định chính sách, có chính sách tạo động lực thu hút nhân tài, phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng trọng dụng nhân tài vì lợi ích phát triển đất nước.

     - Đổi mới căn bản công tác giáo dục tư tưởng chính trị trong Đảng làm tăng tính thuyết phục, sức thúc đẩy, sức lan tỏa thành hiệu ứng xã hội mạnh từ việc tuyên truyền, phổ biến nghị quyết và nêu cao tính Đảng trong đấu trang chống lại các luận điệu, các quan điểm sai trái thù địch để củng cố sự thống nhất nhận thức, hành động trong Đảng, trong dân.

     Muốn vậy phải bắt đầu từ đổi mới quy trình ra nghị quyết theo tinh thần “Thà ít mà tốt”, nâng cao chất lượng nghị quyết và khắc phục bằng được những yếu kém trong tổ chức chỉ đạo thực hiện nghị quyết.

     - Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo hoặc buông lỏng lãnh đạo hoặc buông lỏng lãnh đạo. Điều đó cũng đồng nghĩa với những yếu kém trong cầm quyền.

     Để làm cho quyền lực không bị hình thức hóa, Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải sử dụng đúng quyền và thảm quyền của mình, nêu cao trách nhiệm và dám chịu trách nhiệm về những quyết định đưa ra, bằng cách kiểm soát được việc thực hiện đường lối, nghị quyết, chủ trương, quyết sách của Đảng ở hệ thống ở công quyền và ở các tổ chức xã hội do Đảng lãnh đạo. Không để xây ra tình trạng vượt quyền, lạm quyền bằng cách thi hành nghiêm túc Điều lệ Đảng, các quy chế hoạt động, bầu cử trong Đảng và đề cao sức mạnh của luật pháp trong nhà nước pháp quyền, hoạt động hợp hiến, hợp pháp, giữ cho kỷ cương, phép nước có tính uy nghiêm cần thiết. Đảng viên và các tổ chức đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.

     Lý luận Đảng Cộng sản cầm quyền là một vấn đề còn rất mới, đang cần đẩy mạnh nghiên cứu và tổng kết từ thực tiễn đổi mới. Trong Hội thảo này, đề nghị các dồng chí tập trung thảo luận một số vấn đề sau đây:

     - Những thời cơ và thách thức, nguy cơ đối với Đảng Cộng sản trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền - Những giải pháp phòng ngừa và khắc phục?

     - Vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nâng cao năng lực và bản lĩnh cầm quyền của Đảng?

     - Đánh giá những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về phương diện cầm quyền của Đảng qua 30 năm đổi mới?

     - Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới?

     Đề nghị các đồng chí kết hợp nội dung Hội thảo với tư vấn cho Tổ Biên tập Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới về những vấn đề liên quan đến công tác xây dựng Đảng./.

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Sự xung đột của các tư tưởng kinh tế - Tác giả: Lawrence H.White

- Tại sao cần đọc các tác phẩm cổ điển về kinh tế? - Tác giả: Peter J. Boettke

- Sự đụng độ của các định nghĩa - Tác giả: Edward Said - Biên dịch: Lê Nguyên Long

- Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học - Tác giả: Dani Rodrik - Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Hai hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law - Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn

- Chủ nghĩa hiện thực tân cổ điển và các lý thuyết về chính sách đối ngoại - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Ánh | Hiệu đính: Trương Minh Huy Vũ

- Phân tích chính sách đối ngoại - Biên dịch: Đào Tuấn Ninh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Mối quan hệ biện chứng nội sinh và ngoại sinh tạo thành sức mạnh của dân tộc và của sự phát triển - Tác giải: GS.TS. Đinh Xuân Dũng