Mối quan hệ biện chứng nội sinh và ngoại sinh tạo thành sức mạnh của dân tộc và của sự phát triển - Tác giải: GS.TS. Đinh Xuân Dũng

28/08/2015 15:54

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG NỘI SINH VÀ NGOẠI SINH TẠO THÀNH SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC VÀ CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

GS,TS. Đinh Xuân Dũng

Phó Chủ tịch HĐLL Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương

Theo; Lý luận và Thực tiễn

Số: 13 Tháng 9 năm 2014

     Trong lịch sử phát triển của mình, mỗi dân tộc, quốc gia bao giờ cũng có hai nguồn lực tạo nên sự phát triển: nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh, nói đơn giản là nguồn lực bên trong của chính dân tộc đó và nguồn lực từ bên ngoài tác động, xâm nhập vào dân tộc. Đó là quy luật có tính phổ quát, ngay cả khi các dân tộc chưa có điều kiện đầy đủ để giao lưu, hợp tác, quan hệ với nhau. Quy luật đó càng phát huy mạnh mẽ trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay và sắp tới. Đặc điểm mới trong quan hệ giữa các dân tộc, các quốc gia thời hiện đại - đó là tính "tùy thuộc lẫn nhau" đã và đang được khẳng định trong thực tiễn.

     Tuy vậy, nội hàm của hai khái niệm "nội sinh" và "ngoại sinh" rất rộng, bao hàm trong đó liên quan đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,... Vì thế, bài viết này chỉ tập trung suy nghĩ về quan hệ biện chứng giữa sức mạnh nội sinh về văn hóa của dân tộc Việt Nam với văn hóa nước ngoài tác động, xâm nhập vào nước ta như là một sức tác động ngoại sinh từ bên ngoài. Nếu có đề cập đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... bài viết cũng đứng từ góc độ và giá trị văn hóa để làm rõ quan hệ biện chứng đặc biệt giữa hai nguồn lực đó để tạo nên sức mạnh tổng hợp độc đáo của văn hóa Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển.

     I. Cách đây 16 năm, trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII - 1998 về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", Đảng ta đã xác định "văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển". Nhưng thật đáng tiếc, nhiều năm qua, hầu như không ai làm rõ, bàn sâu, tập trung suy nghĩ về luận điểm này. Đến Đại hội XI (2011), trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong Báo cáo chính trị, luận điểm này lại được khẳng định một lần nữa "Văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển". Nhận rõ tầm quan trọng, ý nghĩa sâu xa của nó, gần đây nhất, Nghị quyết số 33/NQ-TW khóa XI về văn hóa, luận điểm này lại được nhấn mạnh trong mục tiêu chung định hướng và xây dựng văn hóa, con người Việt Nam "văn hóa thực sự... là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc".

     Vậy, câu hỏi đầu tiên đặt ra là: Vì sao văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển bền vững của dân tộc? Luận cứ khoa học - lịch sử và thực tiễn của nó là ở đâu?

     1. Văn hóa do con người sáng tạo ra. Sức sáng tạo của con người là vô tận, vì thế kết quả sáng tạo về văn hóa cũng cực kỳ phong phú, đa dạng, luôn luôn biến đổi, thay đổi, cái mới, cái lạ, cái chưa từng có thường xuyên xuất hiện. Có các hiện tượng, sự kiện, sản phẩm văn hóa, thay đổi hàng ngày, thậm chí hàng giờ. Nó thay đổi đến chóng mặt như vậy thì làm sao có thể trở thành sức mạnh nội sinh của cả dân tộc được? Mới ngày nào đó, các cụ còn đội khăn xếp, mặc áo dài the, đọc và viết chữ Hán, chữ Nôm bằng mực tàu..., bây giờ chúng ta không còn thấy những cái đó nữa, mà thay bằng đủ loại quần Jin, quần lửng, comple, váy ngắn, áo dây, tiếng Anh, tiếng Pháp, máy vi tính, điện thoại di động hiện đại... tràn ngập trong đời sống.

     Một mặt, văn hóa với tư cách là các sự kiện, sản phẩm, kết quả cụ thể thường xuyên biến đổi, và mặt khác, văn hóa lại tạo ra những nhân tố định hình, có tính bất biến để tạo ra cái riêng, cái độc đáo, cái cốt cách của một cộng đồng, một dân tộc.

     Song, có một điều rất hiển nhiên là, dù có biến đổi như thế nào đi chăng nữa, người Việt Nam vẫn là người Việt Nam, khó trộn lẫn với các dân tộc khác. Ngay cả khi sống ở nước ngoài, người Việt Nam, cả Việt kiều đã đi xa nước lâu năm, vẫn giữ được đặc tính Việt, cái mà nhà văn Nguyễn Đình Thi gọi là "khoảng trời xanh" của cộng đồng người Việt. Như vậy, bản sắc văn hóa, nếp sống văn hóa của dân tộc trở thành một sự cố kết cộng đồng. Ở đây, xuất hiện một "nghịch lý" của sự phát triển văn hóa: một mặt, văn hóa với tư cách là các sự kiện, sản phẩm, kết quả cụ thể thường xuyên biến đổi, và mặt khác, văn hóa lại tạo ra những nhân tố định hình, có tính bất biến để tạo ra cái riêng, cái độc đáo, cái cốt cách của một cộng đồng, một dân tộc. Phải giải thích "nghịch lý" này bằng cấu trúc của văn hóa. Cái luôn luôn biến đổi, cái hàng ngày, các sản phẩm cụ thể... là cấu trúc bề mặt của văn hóa. Cái đó ta nhìn, nghe, thấy được. Dưới tất cả cái cụ thể đó, cái cần đạt tới của mọi hoạt động văn hóa là cấu trúc chiều sâu, là những hệ giá trị. Đó là những hằng số ít biến đổi, là cái gốc điều chỉnh mọi hoạt động xã hội, giữ tính liên tục, tạo thế ổn định và định hướng phát triển. Phải đạt được cả hai mặt đó trong cấu trúc văn hóa mới tạo được những công trình, sản phẩm, tác phẩm văn hóa có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu sống hàng ngày của con người và qua đó, xây đắp các giá trị trong nhân cách con người và cốt cách cộng đồng, dân tộc (đáng tiếc là, hiện nay, đang có hiện tượng khá phổ biến, chỉ chú ý đến cấu trúc bề mặt của văn hóa, lảng tránh hoặc thiếu năng lực tạo ra các giá trị chiều sâu của các sản phẩm văn hóa). Nói như cố GS. Phạm Đức Dương, "Mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc bề mặt và cấu trúc chiều sâu là rất đa dạng giống như hai mặt Động - Tĩnh trong lý thuyết âm dương của phương Đông". Chính vì thế mà chúng ta có thể nhận rõ: cấu trúc chiều sâu (hệ giá trị) đóng vai trò định hướng và điều chỉnh những biến đổi trên bề mặt. Làm ngược lại hay một nền văn hóa chỉ có phát triển bề mặt về số lượng mà không đạt tới chiều sâu của các giá trị định hướng và điều chỉnh sẽ là nền văn hóa chệch hướng, không làm tròn chức năng vốn có của nó. Do đó, những biến đổi trên bề mặt dù thiên biến vạn hóa như thế nào chăng nữa cũng không thể và không phải là sự biến đổi hỗn loạn, thoát khỏi hoặc từ chối vai trò chiều sâu của nó tạo ra các giá trị cho cộng đồng, dân tộc. Như vậy, các yếu tố phát triển trên bề mặt, trong quá trình biến đổi, có sự lựa chọn, loại bỏ, một số còn lại dần dần thấm sâu và tác động đến cấu trúc chiều sâu, làm cho hệ giá trị cũng biến đổi theo, dù rất chậm chạp. Những giá trị đó được đúc kết, bổ sung và định hình để, theo tiến trình lịch sử dân tộc, trở thành hằng số cốt cách dân tộc. Hay nói cách khác, đó chính là đặc trưng văn hóa dân tộc để khu biệt dân tộc ta với dân tộc khác, cái mà chúng ta gọi là Hồn dân tộc. Như vậy, cùng với việc chấp nhận và tôn trọng sự biến đổi cực kỳ phong phú, đa dạng, sinh động, bất ngờ trên cấu trúc bề mặt của văn hóa, chúng ta cần đặc biệt lưu tâm làm cho văn hóa bám rễ sâu sắc vào mảnh đất tâm thức của dân tộc, thể hiện hồn dân tộc, cốt cách dân tộc. Đó chính là cơ sở khoa học (nằm ngay trong bản chất, đặc trưng của văn hóa, là quy luật phát triển lành mạnh của văn hóa) để Đảng ta khẳng định văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng của dân tộc và của sự phát triển bền vững, "hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam" (Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI "Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo". Phải chăng, đó là một hướng đúc kết các hằng số văn hóa của nhân cách Việt Nam (tất nhiên, công việc này còn cần tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, trao đổi sâu hơn nữa).

     2. Văn hóa chính là tổng thể các giá trị do con người sáng tạo ra, đó là các giá trị vật chất và tinh thần. Văn hóa cũng chính là trình độ, năng lực hoạt động sống của con người và thể hiện sinh động chính bản thân sự phát triển của con người, cộng đồng, dân tộc.

     Có hai loại giá trị: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Trong các giá trị tinh thần, người ta thường nói đến giá trị khoa học (cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính nghĩa, cái cách mạng), giá trị pháp luật (cái hợp pháp), giá trị đạo đức (cái thiện, cái tốt), giá trị thẩm mỹ (cái đẹp)... Tất cả các loại giá trị đó đều được coi là các giá trị văn hóa. Như vậy, giá trị là một khái niệm chỉ ý nghĩa của các hiện tượng vật chất cũng như tinh thần mà mỗi cộng đồng người quan tâm dựa trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu hay lợi ích nhất định.

     Cái ít biến đổi mà trên kia, ta gọi là hằng số, là yếu tố tĩnh của văn hóa nằm trong tâm thức con người, được đúc kết và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chính là các hệ thống giá trị. Đó là cái gốc cần có sự tồn tại và phát triển của văn hóa (GS.Trần Đức Thảo có lần nhận xét: cái quy định của sự sống của cây cối là gốc của chúng - người ta có thể hái hoa, vặt quả, chặt cành..., cây vẫn sống. Cây chỉ chết khi ta chặt gốc). Có ba loại giá trị cơ bản tạo nên văn hóa, cái gốc của văn hóa là các giá trị chân, thiện, mỹ. Ba giá trị đó bao trùm và phải được thấm sâu trong toàn bộ đời sống con người, được khẳng định là các chuẩn mực bao quát nhất cho tính nhân văn để đánh giá và định hướng cho sự phát triển xã hội. Ví như, khi chúng ta tập trung mọi nguồn lực quốc gia để tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất cho con người thì bản thân kinh tế phải tuân theo lý tưởng thẩm mỹ và chuẩn mực đạo đức, nếu không, kinh tế sẽ lấn át văn hóa dẫn tới sự phát triển không thể bền vững và làm xói mòn những giá trị văn hóa. Quan điểm này có vai trò đặc biệt quan trọng khi chúng ta xử lý những vấn đề văn hóa trong quan hệ với tăng trưởng kinh tế nói riêng và trong sự phát triển bền vững của dân tộc nói chung.

     Như vậy, các giá trị văn hóa được chắt lọc và được kết tinh thành truyền thống của mỗi dân tộc, được cộng đồng lựa chọn tạo nên bản sắc của dân tộc đó, được truyền từ đời này sang đời khác. Chính vì thế mà giá trị là kim chỉ nam hướng dẫn các thành viên trong cộng đồng (dân tộc, giai cấp, các tầng lớp xã hội, các giới...) phân biệt đúng - sai, thiện - ác, đẹp - xấu để hành động nhằm đưa con người vươn lên sự hoàn thiện, tức là vươn tới chân, thiện, mỹ).

     Những luận cứ trên đây về vai trò của hệ thống các giá trị văn hóa góp phần làm rõ hơn luận điểm về văn hóa là sức mạnh nội sinh của dân tộc, của sự phát triển bền vững.

     3. Vai trò của các chuẩn mực văn hóa đối với cộng đồng và dân tộc.

     Giá trịchuẩn mực xã hội không hoàn toàn đồng nhất vì giá trị của những gì do con người sáng tạo đều được đánh giá bằng thước đo của chuẩn mực theo bậc thang của chúng. Giá trị mang tính khái quát, định hướng cho sự ứng xử cộng đồng hay cá nhân, còn chuẩn mực là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, đánh giá, để hướng theo đó mà làm cho đúng và đồng thời là vật được chọn làm mẫu để đo lường. Chuẩn mực là cách xếp thứ tự các giá trị, đối với các dân tộc khác nhau, có cách sắp xếp khác nhau. Các chuẩn mực đánh giá đạo đức có tính phổ biến trong tất cả các thành viên của xã hội, mang tính cộng đồng xã hội. Điều này cực kỳ hệ trọng đối với 1 cộng đồng, 1 xã hội, 1 dân tộc, nó trực tiếp tạo nên sức mạnh bên trong của cộng đồng, của dân tộc trước những vấn đề đạo đức xã hội quan trọng. Sự đồng thuận xã hội trên lĩnh vực này sẽ chính là sức mạnh nội sinh của dân tộc.

     Thông thường, các giá trị được đánh giá là hợp chuẩn hay lệch chuẩn. Hợp chuẩn trong trường hợp các sản phẩm văn hóa hay ứng xử phù hợp với những tiêu chuẩn được xã hội, cộng đồng thừa nhận một cách tự nguyện, còn lệch chuẩn khi những hoạt động không theo khuôn phép được định sẵn và có hai tình huống vì chuẩn cũ đã lỗi thời trở thành lực cản của sự cách tân, do đó, người sáng tạo phải phá khung để phù hợp với yêu cầu của cuộc sống đã thay đổi; hoặc là những hoạt động sai trái, tiêu cực vi phạm những quy ước xã hội cần phê phán. Trong tình hình phức tạp hơn, cao hơn sự lệch chuẩn là sự loạn chuẩn khi các chuẩn mực văn hóa đang rơi vào tình trạng hoặc bị coi thường hoặc cộng đồng lúng túng, rơi vào khủng hoảng khi xã hội đang chuyển động phức tạp, nhanh chóng hoặc do cấp lãnh đạo, quản lý xã hội thiếu năng lực cần thiết tổ chức việc đúc kết, xây dựng và thiếu năng lực chỉ đạo thực tiễn thực hiện các chuẩn mực mới khi xã hội đang biến đổi. Phải chăng, trong thực tiễn, hiện nay, chúng ta đang có biểu hiện rơi vào các biểu hiện trên?

     Trong mỗi nền văn hóa thường có hệ thống chuẩn mực cùng phát huy tác dụng đan kết các hoạt động văn hóa của con người.

     Như vậy, điều quan trọng hàng đầu phải là giáo dục cho quần chúng, cộng đồng nhận thức được những giá trị và chuẩn mực để họ tự định hướng, tự điều chỉnh mọi hành vi và ứng xử một cách tự giác. Đạt được kết quả đó chính là tạo ra sức mạnh nội sinh to lớn, sâu sắc của cộng đồng, của dân tộc. Trong mỗi nền văn hóa thường có hệ thống chuẩn mực cùng phát huy tác dụng đan kết các hoạt động văn hóa của con người. Đó là hệ thống các chuẩn mực trong lao động, trong giao tiếp, trong đảng phái, tín ngưỡng, tôn giáo, trong giới tính, tuổi tác và các nghề nghiệp khác nhau... Các hệ thống chuẩn mực này bao chứa những định chuẩn quy định tính thông tin, tính kiểm soát trong các lĩnh vực cơ bản của đời sống tinh thần của xã hội, tạo thành các chuẩn mực về đạo đức, pháp luật, trí tuệ, nghề nghiệp, thẩm mỹ... Các chuẩn mực này mang tính quy định, tính điều chỉnh và cả tính cấm đoán. Như vậy, với tư cách là thành tố văn hóa của xã hội, các chuẩn mực đề ra những nguyên tắc đan kết ở chiều sâu trong quan hệ xã hội, tạo nên những định hướng cho mọi quan hệ văn hóa, giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, ràng buộc các thế hệ, trực tiếp góp phần tạo nên sự cố kết tự nguyện của cộng đồng, của dân tộc. Và đó chính là sức mạnh nội sinh của dân tộc (một ví dụ cụ thể: Lòng yêu nước là một chuẩn mực sâu sắc, nổi bật nhất của dân tộc ta, điều đó dễ nhận rõ, chuẩn mực đó đã được thể hiện cực kỳ sinh động, đậm đặc qua sự kiện "biển Đông" mấy tháng qua).

     Những phân tích trên đây nhằm làm rõ về mặt khao học, vì sao văn hóa là sức mạnh nội sinh của dân tộc, của sự phát triển bền vững. Tuy vậy, các phân tích trên dựa trên văn hóa bản địa, văn hóa do chính dân tộc ta tạo ra. Song, văn hóa Việt Nam không chỉ là văn hóa bản địa, mà trong toàn bộ lịch sử của mình, chúng ta luôn tiếp xúc, giao lưu, đấu tranh, tiếp nhận, chọn lọc văn hóa từ bên ngoài vào. Ở đây, có hai vấn đề mà chúng ta phải thường xuyên tìm cách xử lý: chống sự đồng hóa, xâm lăng văn hóa và biến các nguồn lực ngoại sinh đó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc, có lợi cho dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc trong tiến trình lịch sử.

     II. Chuyển hóa nguồn lực ngoại sinh về văn hóa thành sức mạnh nội sinh, làm giàu có và phong phú sức mạnh ấy của dân tộc - quy luật "Việt hóa" những tư tưởng, lý luận, văn hóa của bên ngoài

     "Việt hóa" những lý luận, tư tưởng của bên ngoài, có lẽ, là một trong những quy luật, đặc điểm bao trùm, xuyên suốt trong lịch sử của dân tộc ta. Và, phải luôn luôn dựa trên cái gốc Việt, cái hồn Việt để thực hiện sự "Việt hóa" đó. Cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh là một minh chứng tiêu biểu nhất, điển hình và sáng ngời nhất về quá trình và thành tựu độc đáo của sự Việt hóa đó.

     1. Những đặc điểm, điều kiện của Việt Nam dẫn tới nhu cầu Việt hóa và tạo ra khả năng, năng lực Việt hóa của con người Việt Nam

     Lãnh thổ Việt Nam có một đặc điểm, một lợi thế là vùng địa - chính trị, địa - kinh tế và địa - văn hóa, ở đó có sự giao thoa, thâm nhập lẫn nhau giữa các nền văn hóa.

     Việt Nam là vùng giao thoa về nhiều mặt, trước hết, là văn hóa Đông Nam Á với văn hóa Đông Á.

     Trong một giai đoạn lịch sử dài, là sự giao thoa của văn hóa Trung Quốc và văn hóa Ấn Độ.

     Từ thời kỳ Cận đại xuất hiện và phát triển sự giao lưu, tác động lẫn nhau giữa văn hóa châu Á với văn hóa châu Âu, hay nói cách khác là, từ thời kỳ cận đại, ở Việt Nam, có sự gặp nhau, tác động lẫn nhau, vừa như sự "đối chọi", lại vừa như sự "hấp dẫn" lẫn nhau giữa văn hóa Đông phương và văn hóa Tây phương.

     Trong quá trình xâm nhập của văn hóa nước ngoài vào Việt Nam, thường diễn ra một đặc điểm - tính trội của văn hóa nước ngoài có khuynh hướng lấn áp văn hóa bản địa Việt.

     Một thời gian dài hàng chục thế kỷ trong quá khứ, văn hóa phương Bắc chi phối mạnh và ý đồ "đồng hóa" dân tộc Việt của các thế lực xâm lược, đô hộ không bao giờ thay đổi.

     Văn hóa phương Tây (trước hết là Pháp) xâm nhập ồ ạt, mạnh mẽ, liên tục vào Việt Nam, làm biến đổi sâu sắc văn hóa bản địa, xâm lăng không chỉ về đất đai, nền độc lập, kinh tế, mà cả xâm lăng văn hóa.

     Văn hóa Mỹ thời kỳ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam là công cụ góp phần thực hiện ý đồ xâm lược.

     Sức đề kháng và năng lực tiếp nhận, chọn lọc, vận dụng và sáng tạo của con người Việt Nam trong những điều kiện lịch sử trên.

     Cái gốc Việt, hồn Việt sức mạnh nội sinh của văn hóa bản địa là căn nguyên sâu xa để chúng ta trụ vững, phát triển, không bị đồng hóa mà còn có năng lực đặc biệt: Việt hóa những lý luận, tư tưởng, văn hóa đến từ bên ngoài.

     - Chính từ đặc điểm này mà ngay từ đầu và trong toàn bộ quá trình phát triển của mình, văn hóa Việt Nam (theo nghĩa rộng) đã trưởng thành và tạo nên những giá trị độc đáo của dân tộc mình dựa trên một năng lực rất đặc biệt, đó là vừa tự nuôi dưỡng và phát huy những giá trị của chính mình - văn hóa bản địa - vừa biết tiếp nhận, chọn lọc những giá trị tốt đẹp của nhiều nền văn hóa khác. Do vậy, tính nhiều nguồn của văn hóa Việt tạo nên sự đa dạng của nó nhưng bao giờ cũng hội tụ trong sự thống nhất, vì đó là một nền văn hóa biết tiếp nhận và làm phong phú cho mình bằng những giá trị của nhiều nền văn hóa thế giới, cả Đông và Tây, cả gần và xa...

     Trong quá trình giao lưu, giao thoa đó, chỉ có những giá trị tư tưởng, lý luận, văn hóa bên ngoài nào phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam được chọn lọc và được Việt hóa mới có thể trở thành những thành tố hữu cơ cấu thành tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Sự chọn lọc, sàng lọc, Việt hóa để trở thành giá trị Việt Nam diễn ra không ngừng, thầm lặng và cực kỳ tinh tế trong tiến trình lịch sử và tiến trình văn hóa nước nhà.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nhu cầu trên. Người cho rằng: "phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, có cái gì tốt là phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam". Luận điểm trên đây là sự tổng kết cực kỳ sâu sắc một quy luật, một đặc điểm của toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và tự khẳng định của hệ thống tư tưởng lý luận và văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng chính là nhu cầu tất yếu, nội tại đảm bảo cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam trong tương lai.

     2. Việt hóa là gì?

     "Phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, có cái gì tốt là phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam.

     Có thể hiểu nội hàm của khái niệm Việt hóa bao gồm trình tự và các cấp độ sau:

     - Sự tiếp xúc và tiếp nhận các thành tựu, những tinh hoa giá trị, các quan điểm trong hệ thống lý luận, tư tưởng và văn hóa bên ngoài (nước ngoài), trực tiếp hay gián tiếp. Cấp độ này diễn ra thường xuyên trong tiến trình lịch sử, làm giàu có cho văn hóa Việt bởi những tinh hoa và thành tựu của văn hóa thế giới.

     - Sự lựa chọn (chọn lọc) những gì phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đáp ứng nhu cầu của Việt Nam trong quá trình tiếp nhận trên.

     - Sự vận dụng những gì đã chọn lọc vào đời sống Việt Nam.

     - Sự chuyển hóa thành của Việt Nam những gì đã chọn lọc, vận dụng và được thực tiễn Việt Nam chấp nhận, trở thành tư tưởng, lý luận, sản phẩm Việt Nam trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

     - Lựa chọn cách diễn đạt phù hợp với tư duy, tâm lý, tình cảm, truyền thống, tập quán Việt Nam.

     Chúng ta có thể tìm và phân tích vô vàn các dẫn chứng sinh động, cụ thể, đầy sức thuyết phục để khẳng định cho quá trình Việt hóa trên ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau.

     Những thành tựu Việt hóa và hạn chế trong lịch sử dân tộc: phân tích những thành tựu đó qua các thời kỳ từ thời dựng nước đến nay, đặc biệt chú ý:

     - Việt hóa trong tư tưởng, lý luận và văn hóa Trung Quốc qua các thời kỳ.

     - Việt hóa tư tưởng, văn hóa Ấn Độ.

     - Việt hóa tư tưởng, văn hóa phương Tây (đặc biệt là Pháp).

     - Đồng thời cần chỉ ra những hạn chế lịch sử trong quá trình Việt hóa đó như thiếu tính hệ thống, chắp vá, máy móc, bắt chước trong một số trường hợp và lĩnh vực cụ thể.

     3. Hồ Chí Minh - Tấm gương sáng ngời và độc đáo, một tài năng đặc biệt trong việc thực hiện Việt hóa những tư tưởng lớn của thế giới để tạo nên một hệ giá trị tư tưởng, văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hiện đại.

     Cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh, bắt đầu từ thuở ấu thơ, đến 30 năm bôn ba khắp năm châu, bốn biển là cả một quá trình vĩ đại tích lũy, tiếp nhận, làm giàu có cho mình những tri thức lớn, sâu sắc, phong phú của thế giới.

     - Thời thơ ấu, thiếu niên: tiếp xúc với văn hóa gốc Việt quê nhà, tiếp nhận những tri thức của Nho học.

     - Bắt đầu tiếp xúc, tiếp nhận và xuất hiện nhu cầu phân tích, đánh giá để nhận biết bản chất của văn hóa Pháp (thời kỳ ở Quốc học Huế).

     - Mục tiêu ra nước ngoài để học cái hay của người, tìm chân lý, cái có ích cho dân tộc, cho đồng bào, từ đó tìm đường, xác định con đường cứu nước, cứu dân tộc.

     - Những tri thức khổng lồ, sâu sắc, vô cùng phong phú trên hầu hết các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội được Nguyễn Ái Quốc tích lũy trong suốt 30 năm bôn ba ở nước ngoài.

     Một năng lực sàng lọc, chọn lọc cực kỳ tinh tế và sâu sắc, sự tổng hợp các tri thức và cao hơn, đó là sự "khúc xạ" (chữ dùng của cụ Vũ Đình Hòe) và "vượt gộp" (chữ dùng của GS. Phan Ngọc) là tài năng phi thường hiếm có của Hồ Chí Minh khi tiếp xúc, tiếp nhận, chọn lọc các tri thức nhiều mặt của nhân loại.

     "Bất cứ khía cạnh nào của chân lý ló ra, xuyên qua bộ óc phi thường của người thanh niên này là đều như tia sáng mặt trời xuyên qua một vật thể trong suốt nào đều phải chịu sự "khúc xạ" thôi! Phan Ngọc nhìn kết quả, hiệu quả của sự khúc xạ: tia sáng xuyên qua vật thể kia của vật lý học hiện đại, đã hòa mình với ánh sáng trong suốt của vật thể đồng thời biến nó thành một vật có ánh sáng tinh khiết, long lanh hơn trước. Cái chất sáng hiện ra sau khúc xạ đó là một sự "vượt gộp".

     Có lẽ, nhận xét trên đây đã làm rõ kết quả, thành tựu, sản phẩm đạt được của sự Việt hóa các tư tưởng, lý luận, văn hóa của nước ngoài của Hồ Chí Minh.

     Như vậy, ở Hồ Chí Minh là sự kết hợp và "vượt gộp" tuyệt với những tinh hoa của nhiều nền văn hóa thế giới với những giá trị bền vững, độc đáo và cao quý nhất của văn hóa dân tộc. Sự đánh giá sâu sắc và sự lựa chọn cực kỳ mẫn cán, tinh anh của Người về những giá trị mà Người chọn lọc và tiếp nhận trong các học thuyết của Khổng Tử, Giêsu, Các Mác và Tôn Dật Tiên là một minh chứng vô cùng thuyết phục không chỉ về kinh nghiệm ứng xử văn hóa của bản thân Người, mà đã trở thành một quan niệm tiếp nhận, sàng lọc, Việt hóa của dân tộc ta đối với văn hóa thế giới: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là thích hợp với điều kiện nước ta... Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy".

     Những điều trình bày chưa đầy đủ, ít nhiều sơ sài trên đây, trong sự cố gắng của mình, bài viết muốn làm rõ về mặt lý luận vì sao Đảng ta lại khẳng định văn hóa là sức mạnh nội sinh của dân tộc, của sự phát triển bền vững và xử lý như thế nào để đạt tới mối quan hệ biện chứng giữa nguồn lực nội sinh và nguồn lực ngoại sinh về văn hóa để dân tộc ta có được sức mạnh tổng hợp về văn hóa, một nền văn hóa là "thành quả hàng ngàn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình" (Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII).

     Vận dụng triệt để và sáng tạo luận điểm "Văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng của dân tộc, của sự phát triển bền vững" sẽ giúp chúng ta soi sáng tất cả các vấn đề trong thực tiễn và là cửa đột phá để tạo ra những thành tựu mới, những giá trị mới của không chỉ văn hóa dân tộc thời kỳ hiện đại mà còn của chính sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của Tổ quốc chúng ta những năm sắp tới.

     Xem: Vũ Đình Hòe, Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ, 2007, tr.184.

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Sự xung đột của các tư tưởng kinh tế - Tác giả: Lawrence H.White

- Tại sao cần đọc các tác phẩm cổ điển về kinh tế? - Tác giả: Peter J. Boettke

- Sự đụng độ của các định nghĩa - Tác giả: Edward Said - Biên dịch: Lê Nguyên Long

- Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học - Tác giả: Dani Rodrik - Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Hai hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law - Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn

- Chủ nghĩa hiện thực tân cổ điển và các lý thuyết về chính sách đối ngoại - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Ánh | Hiệu đính: Trương Minh Huy Vũ

- Phân tích chính sách đối ngoại - Biên dịch: Đào Tuấn Ninh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Xung quanh cuộc đấu tranh về hình thái ý thức ở Trung Quốc hiện nay - Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc