Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống tư pháp ở Việt Nam hiện nay - Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Tất Viễn

24/08/2015 15:14

ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TỔ CHỨC

BỘ MÁY VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. Nguyễn Tất Viễn

Ủy viên chuyên trách - Thường trực

Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương

Theo: Lý luận và Thực tiễn

Số: 15 Tháng 11 năm 2014

     1. Yêu cầu khách quan đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp

     Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Nhà nước CHXHCN Việt Nam) ra đời đến nay, hệ thống tư pháp đã trải qua một số lần cải cách. Lần cải cách đầu tiên diễn ra năm 1950, khẳng định tính chất nhân dân của nền tư pháp. Lần cải cách thứ hai diễn ra vào đầu năm 60 của thế kỷ trước, khi hệ thống tư pháp được chuyển sang mô hình giống như ở các nước thuộc hệ thống XHCN.

     Năm 1986, bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Chủ trương cải cách bộ máy nhà nước được đề ra và thực hiện qua các nhiệm kỳ đại hội Đảng. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thể chế hóa chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là tiền đề rất quan trọng của cuộc cải cách bộ máy nhà nước trên cả ba phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp.

     Cuộc cải cách tư pháp được thực hiện trong thời kỳ đổi mới với những lý do như sau:

     - Việc chuyển từ nền kinh tế với cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN làm cho các quan hệ kinh tế ngày càng phong phú, đa dạng, phức tạp về tính chất, đòi hỏi một hệ thống pháp luật điều chỉnh phù hợp, bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, một hệ thống tư pháp đủ năng lực giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn của đời sống pháp luật.

     - Nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, hiện đại, dân chủ, bảo đảm tính độc lập, bảo vệ công lý. Vì vậy, các cơ quan tư pháp phải khắc phục những hạn chế, tổ chức khoa học, hợp lý hơn, hoạt động có chất lượng và hiệu quả hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

     - Quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi các quốc gia tương trợ nhau trong lĩnh vực tư pháp nhiều hơn để góp phần giải quyết các vấn đề toàn cầu như môi trường, tội phạm xuyên quốc gia, chống khủng bố và các vấn đề khác.

     - Người dân và xã hội yêu cầu ngày càng cao đối với các cơ quan tư pháp trong việc xử lý tội phạm, giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Các hoạt động tư pháp cần được thực hiện có hiệu quả, kịp thời nghiêm minh. Các cơ quan tư pháp một mặt phải thật sự là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; mặt khác phải là công cụ vững chắc bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ pháp luật và pháp chế XHCN.

     2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt nam về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp

     Thời kỳ trước đổi mới, các chủ trương, nhiệm vụ về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã được nêu trong nhiều văn kiện của Đảng. Khi công cuộc đổi mới bắt đầu, việc nghiên cứu về cải cách tư pháp được tiến hành căn cứ vào chủ trương cải cách bộ máy nhà nước do Đại hội VI của Đảng đề ra. Tại Đại hội VII của Đảng đã xác định nhiệm vụ tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan tòa án, kiểm sát, tư pháp có đủ quyền lực và khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ pháp luật. Việc đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp được xác định trong văn kiện các đại hội Đảng tiếp theo, trong Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 khóa VII; Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa VIII và các văn kiện của Đảng. Chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp được đề ra một cách thận trọng và phát triển từng bước, việc triển khai thực hiện đạt được một số kết quả nhất định, tạo cơ sở cho những cải cách tiếp theo. Sau Đại hội IX của Đảng, ngày 01-01-2002 Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Nghị quyết đề ra 04 quan điểm chỉ đạo công tác pháp và 08 nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong tình hình mới. Đó là các giải pháp cấp bách, những nhiệm vụ cần thực hiện ngay nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Kết quả thực hiện chủ trương đổi mới và hoạt động của hệ thống tư pháp trong thời gian này đa tạo sự chuyển biến trong nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tư pháp trong  Nhà nước pháp quyền XHCN, trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, tạo thuận lợi rất cơ bản để thúc đẩy nhiệm vụ cải cách tư pháp. Tuy nhiên, việc đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn chậm so với yêu cầu đề ra. Thực tiễn đất nước lúc này đòi hỏi phải tiến hành cải cách tư pháp mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn. Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 49–NQ/TW, ngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (dưới đây gọi tắt là Chiến lược cải cách tư pháp). Đây là một nội dung quan trọng trong đường lối mới toàn diện đất nước của Đảng, một chương trình cải cách tư pháp ở tầm chiến lược tổng thể, toàn diện, lâu dài, là lần cải cách tư pháp toàn diện và triệt để nhất từ trước đến nay. Chiến lược cải cách tư pháp đề ra mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng  sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà là trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao; đồng thời đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, 4 phương hướng và 8 nhiệm vụ cần thực hiện đến năm 2020.

     Quan điểm về cải tư pháp gồm: (1) Cải cách tư pháp phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, bảo đảm sự ổn định chính trị, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. (2) Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành chính. (3) Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cải cách tư pháp. Các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp phải đặt dưới sự giám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân. (4) Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai. (5) Cải cách tư pháp phải được tiến hành khản trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với những bước đi vững chắc.

     Phương hướng cải cách tư pháp gồm: (1) Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự; hoàn thiện các  thủ tục tố tụng tư pháp bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. (2) Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; xã hội hóa mạnh mẽ hoạt động bổ trợ tư pháp. (3) Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao tiêu chuẩn về về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệm vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội. (4) Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của  Đảng, phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, của công luận và của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.

     Các nhiệm vụ cải cách tư pháp nêu tại Nghị quyết 49-NQ/TW rất cụ thể, trong đó có nhiệm vụ rất quan trọng là xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và  hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân. Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng  theo hướng bảo dảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp. Nhà nước bảo đảm điều kiện vật chất cho hoạt động tư pháp phù hợp với đặc thù của từng cơ quan tư pháp và khả năng của đất nước. xây dựng đội ngũ cán bộ tư  pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp. Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp.

     3. Kết quả đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp

     Từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới đến khi ban hành Chiến lược cải cách tư pháp (2005), tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã có những đổi mới quan trọng theo định hướng cải cách. Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tư pháp được đẩy nhanh hơn. Đã ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (sửa đổi), Bộ Luật tố tụng dân sự 2004, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 và một số luật, pháp lệnh khác làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ  quan tư pháp, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư pháp. Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp có sự thay đổi theo hướng hợp lý hơn. Một số thủ tục tố tụng  được đổi mới, mở rộng hơn quyền của người bão chữa; việc tranh tụng tại phiên tòa bắt đầu được thực hiện; từng bước tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện.

     Sau khi Chiến lược cải cách tư pháp được ban hành, các cấp, các ngành đã chủ động, tích cực triển khai các nhiệm vụ cải cách tư pháp trong phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của mình. Việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể là:

     - Việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp có nhiều tiến bộ. Đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của pháp luật về hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp, thi hành án, luật sư, công chứng, giám định tư pháp theo đúng chủ trương, định hướng lớn nêu trong Chiến lược cải cách tư pháp.

     - Tổ chức bộ máy các cơ quan tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án hình sự từng bước kiện toàn, chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ hơn. Tổ chức, hoạt động của luật sư, công chứng, giám định tư pháp được kiện toàn, phục vụ có hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử. Việc xã hội hóa hoạt động công chứng đã thành công bước đầu, giảm tải được nhiều vụ việc cho các phòng công chứng nhà nước, phục vụ kịp thời nhu cầu của người dân.

     - Chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được nâng lên; việc tranh tụng tại phiên tòa bước đầu đạt được một số kết quả tích cực. Việc thực hiện các thủ tục tố tụng ngày càng tốt hơn, hạn chế được tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Các nguyên tắc hiến định như mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; xét xử công khai; khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự…được đảm bảo.

     - Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, luật sư và bổ trợ tư pháp có chuyển biến rõ nét; số lượng, chất lượng cán bộ tư pháp được nâng lên; đã chuẩn hóa trình độ đội ngũ cán bộ tư pháp; quy định rõ hơn cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm các chức danh tư pháp; chính sách đãi ngộ đối với cán bộ tư pháp từng bước được cải thiện.

     - Cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp được quan tâm. Kinh phí đầu tư phát triển, xây dựng trụ sở, phương tiện, trang thiết bị làm việc và đảm bảo hoạt động của các cơ quan tư pháp được đảm bảo đầy đủ hơn.

     - Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp tiếp tục đổi mới. Việc hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo.

     - Các hoạt động giám sát, chất vấn đối với hoạt động tư pháp được tăng cường; Quốc hội đã ban hành một số nghị quyết chuyên đề về công tác tư pháp. Giám sát của hội đồng nhân dân các cấp được tăng cường, giám sát xã hội được quan tâm.

     Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc như: việc đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp còn chậm, chưa theo đúng lộ trình của Chiến lược cải cách tư pháp. Việc nghiên cứu, xác định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng , cán bộ của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp còn chậm. Công tác giám sát của các cơ quan dân cử, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với hoạt động tư pháp hiệu quả thấp.

     4. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.

     Phương pháp thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp trong thời gian tới là: phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, vướng mắc, tiếp thực hiện mục tiêu, quan điểm, phương hướng cải cách tư pháp nêu trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa  IX. Đồng thời, quán triệt thực hiện nghiêm túc các chủ trương đường lối của Đảng nêu trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 có liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp.

     Những nhiệm vụ cụ thể là xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư  pháp. Các quy định của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp đã thể chế hóa đầy đủ, kịp thời và đúng định hướng của Đảng về cải cách tư pháp, vì vậy phải khẩn trương sửa đổi, bổ sung các luật về  tổ chức hoạt động tư pháp để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 như: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các Luật nội dung như Bộ luật hình sự, Bộ Luật dân sự; các luật về tố tụng tư pháp như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng hành chính; các luật về thi hành án, luật sư, công chứng, giám định tư pháp; xây dựng các luật mới như Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Tạm giữ, tạm giam. Về tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân: thực hiện chủ trương tổ chức tòa án nhân dân thành 4 cấp; tổ chức hệ thống viện kiểm sát nhân dân phù hợp với hệ thống tổ chức tòa án nhân dân. Nghiên cứu xác định rõ nội hàm và xây dựng cơ chế để tòa án nhân dân thực hiện đầy đủ quyền tư pháp. Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính dân chủ, công bằng, nghiêm minh. Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, theo hướng kế thừa những ưu điểm của các mô hình thẩm vấn và tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tiến bộ của mô hình tố tụng tranh tụng. Hoàn thiện cơ chế để nâng cao chất lượng và hiệu quả tranh tụng, coi đây là khâu đột phá của cải cách tư pháp. Xác định rõ phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm của công tố hoạt động điều tra. Sắp xếp tinh gọn đầu mối trong từng cơ quan điều tra chuyên trách để bảo đảm hiệu quả hoạt động. Tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của tòa án và ủy ban nhân dân địa phương trong công tác thi hành án. Xây dựng cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa. Đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý. Hoàn thiện chế định giám định tư pháp theo hướng quy định đầy đủ, chặt chẽ trình tự, thủ tục, thời hạn trưng cầu và thực hiện giám định. Thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực giám định theo mức độ, phạm vi và lộ trình phù hợp. Hoàn thiện chế định công chứng theo hướng tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa. Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp. Thường xuyên thực hiện bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhập các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kính tế, xã hội, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn. Hoàn thiện cơ chế gián sát của các cơ quan dân cử, đảm bảo phát huy quyền dân chủ của nhân dân trong việc giám sát các hoạt động tư pháp. Xây dựng cơ chế cụ thể để phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên tham gia giám sát các hoạt động tư pháp. Tăng cường, củng cố và tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp với các nước. Tổ chức thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Tích cực tham gia vào các hội nghị, diễn đàn tư pháp quốc tế. Tăng cường đầu tư trang, thiết bị kỹ thuật hiện đại, phục vụ có hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong thời gian tới. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng về công tác tư pháp; bảo đảm sự lãnh đạo chặt chễ đối với các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức và cán bộ. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, nhiệm vụ cải cách tư pháp và hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về các chủ trương, đường lối của  Đảng về cải cách tư pháp, giúp cho nhân dân hiểu biết hơn về hoạt động tư pháp, về cải cách tư pháp, tạo thêm động lực thúc đẩy cải cách tư pháp thành công./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Phát triển thương hiệu trong cuộc khủng hoảng: Sớm còn hơn không - Tác giả: SERGEY MITROFANOV

- Cải thiện môi trường cạnh tranh - Tác giả: Yamashita Hioroki

- Những bất lợi ở thị trường nội địa khi Việt Nam thực hiện TPP