Biến đổi cơ cấu xã hội sau 30 năm đổi mới và một số vấn đề về quản lý phát triển ở Việt Nam - Tác giả: GS.TS. Nguyễn Văn Khánh, PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh

25/08/2015 00:04

BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI

SAU 30 NĂM ĐỔI MỚI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀQUẢN LÝ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

GS.TS. Nguyễn Văn Khánh

PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh

Theo: Lý luận và Thực tiễn

Số: 9 năm 2014

     Năm 2007 và 2010 là hai dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới. Năm 2007 là năm Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới - dấu mốc mở đầu một giai đoạn hội nhập mới của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu. Trên thực tế, nền kinh tế Việt Nam đã gia tăng mức độ hội nhập quốc tế, với sự hiện diện của các công ty trên thị trường toàn cầu, các công ty đa quốc gia sản xuất hàng hóa ở Việt Nam, và giao dịch tài chính ngày càng quốc tế hóa. Đồng thời, lao động Việt Nam cũng tiến vào thị trường toàn cầu với việc ngày càng nhiều người Việt đến làm việc tại các nước khác nhau trên thế giới. Năm 2010, sau 25 đổi mới, Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người dưới 100 đô la Mỹ đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp(1).

     Đó là hai chỉ báo quan trọng, chứng tỏ sự phát triển vượt bậc, toàn diện của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nhưng những chỉ bảo đó cũng nói lên rằng, xã hội Việt Nam đang chuyển biến nhanh chóng về mặt cấu trúc trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay. Sự biến chuyển sâu sắc của Việt Nam trong gần 30 năm qua, diễn ra theo logic: Đổi mới năm 1986 với sự phát triển kinh tế - xã hội toàn diện đã dẫn đến thay đổi lớn về cơ cấu xã hội. Sự thay đổi cơ cấu xã hội phản ánh phân tầng xã hội ngày càng mạnh mẽ đã làm gia tăng bất bình đẳng xã hội.

     Có thể nói rằng, nhu cầu thực tiễn hiện nay đang đặt ra là phải nhận thức sâu sắc quá trình chuyển biến này để có chính sách, giải pháp quản lý phù hợp nhằm giữ vững ổn định xã hội và tiếp tục phát triển đất nước. Nội dung dưới dây sẽ phân tích logic biến đổi/phát triển này và nêu ra một vài gợi ý về mặt chính sách.

     1. Biến đổi cơ cấu xã hội

     Khi nói đến cơ cấu xã hội/hay cấu trúc xã hội (social structure), chúng ta đề cập đến cách mà các nhóm xã hội cơ bản (hay còn gọi là các bộ phận/các thành phần chủ yếu của một hệ thống xã hội cụ thể) liên hệ/quan hệ với nhau. Thông thường, khi nói đến cơ cấu xã hội, chúng ta thường chú ý đến các loại cơ cấu xã hội quan trọng/cơ bản như: cơ cấu giai cấp, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu nhân khẩu, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu dân tộc, cơ cấu tôn giáo.

     Biến đổi cơ cấu xã hội hay biến đổi cấu trúc xã hội ở Việt Nam trong ba thập niên vừa qua rất đáng chú ý, nhất là trên hai phương diện. Trước hết, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của các nhóm xã hội chủ yếu trong xã hội. Thứ hai, sự thay đổi của mối quan hệ qua lại giữa các nhóm cơ bản này. Sự thay đổi trên hai phương diện đó phản ánh cơ hội phát triển của đất nước, nhất là trong vấn đề nguồn nhân lực, nguồn vốn con người - cơ sở quan trọng nhất của phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

     Trong 30 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã từ bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp để xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế. Quá trình này đã dẫn đến sự thay đổi của cơ cấu xã hội. Xét về mặt cơ cấu giai cấp, trong 30 năm đổi mới vừa qua, cơ cấu giai cấp ở nước ta đã có những thay đổi sâu sắc trong tất cả các giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức.

     Giai cấp công nhân, trong 30 năm vừa qua, có những bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Về mặt số lượng, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nếu năm 2005, số lượng người lao động làm việc trong các loại hình doanh nghiệp trên cả nước chỉ khoảng 6,07 triệu thì con số này lên đến 7,94 triệu năm 2008; khoảng 8,70 triệu năm 2009; 9,83 triệu năm 2010 và 10,89 triệu năm 2011(2). Như vậy, chỉ trong vòng 6 năm, tính từ năm 2005 đến 2011, số lao động trong các doanh nghiệp trên cả nước đã tăng gần 5 triệu người. Con số này cho thấy rằng, giai cấp công nhân đã có sự phát triển nhanh về số lượng. Về mặt chất lượng, giai cấp công nhân qua đào tạo có tăng lên, nhưng tỷ lệ không lớn. Chỉ tính 4 năm liên tục từ 2009 đến 2012, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo và đang làm việc trong nền kinh tế tương ứng là 14,8%; 14,6%; 15,4%; và 16,6%(3). Trong giai đoạn hiện nay, ước tính giai cấp công nhân làm ra 60% tổng sản phẩm xã hội và đóng góp hơn 70% ngân sách nhà nước(4). Như vậy, mặc dù chỉ chiếm khoảng 11% tổng số dân cư của cả nước, nhưng lực lượng này đã làm ra phần lớn sản phẩm của xã hội và đóng góp khoảng 3,5/5 tổng ngân sách nhà nước. Đó là những chỉ báo minh chứng cho tầm quan trọng của giai cấp công nhân đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.

     Giai cấp nông dân vẫn tăng mạnh về mặt số lượng song lại giảm tỷ trọng trong dân cư. Sự sụt giảm tỷ trọng nông dân trong dân cư phản ánh quá trình chuyển đổi lao động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp. Theo Đại hội Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI được tổ chức vào ngày 01 tháng 7 năm 2013 cho biết thì nông dân chiếm gần 70% dân số cả nước (tức là vào khoảng 63 triệu trong tổng số khoảng 90 triệu hiện nay của đất nước), và hơn 50% lực lượng lao động xã hội. Số hội viên của Hội Nông dân Việt Nam có gần 10,5 triệu người(5). Tuy nhiên, tỷ lệ nông dân giảm so với dân số cả nước là kết quả của các dòng di cư nông thôn/đô thị diễn ra rất mạnh mẽ trong quá trình đổi mới. Dưới một góc nhìn nhất định, quá trình di dân nông thôn đô thị là quá trình biến người nông dân, hay/và con cái của họ thành người thị dân/người công nhân. Về chất lượng giai cấp nông dân, có hai chỉ báo quan trọng sau đây cần được nhấn mạnh. Thứ nhất, thành tựu to lớn của giai cấp nông dân trong việc đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực ở giai đoạn trước đổi mới thành một nước xuất khẩu lương thực hành đầu trên thế giới, nhất là xuất khẩu gạo trong giai đoạn từ đổi mới đến nay. Thứ hai, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Đóng góp vào thành công này có nhiều nhân tố, trong đó giai cấp nông dân đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng chất lượng của giai cấp nông dân, mà chỉ báo cơ bản là năng suất lao động của lực lượng này còn có nhiều hạn chế. Mặc dù là lĩnh vực có số lao động lớn nhưng giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chỉ chiếm khoảng từ 18% đến 20% trong cơ cấu các khu vực kinh tế (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ)(6). Thêm nữa, chất lượng sản phẩm nông nghiệp cũng chưa có tính cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế - ngay cả đối với mặt hàng gạo xuất khẩu(7). Vì vậy, cần chú ý tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, trong đó quan trọng hàng đầu là việc xây dựng được một đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kiến thức khoa học công nghệ phù hợp và năng lực quản lý sản xuất, tiếp cận thị trường tốt.

     Về tầng lớp trí thức, đây là lực lượng quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế tri thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều này được khẳng định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X: "Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững"(8). Thực tế là, trong 30 năm đổi mới vừa qua, tầng lớp trí thức Việt Nam đã có sự phát triển nhanh về số lượng và chất lượng. Về mặt số lượng, tỷ lệ người hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đã được đào tạo và đang làm việc trong nền kinh tế (theo số liệu của Tổng cục Thống kê) là 63,4% năm 2009; 65,2% năm 2010; 73,0% năm 2011; và 75,9% năm 2012(9). Đối với lực lượng trí thức tinh hoa, được hiểu theo nghĩa hẹp là đội ngũ thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư theo thống kê của Bộ Khoa học - Công nghệ, thì cả nước hiện có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996, đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm, trong đó tiến sĩ tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm(10). Về số lượng phó giáo sư, giáo sư, theo số liệu của Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước thì từ năm 1976 cho đến hết năm 2013, tổng số giáo sư, phó giáo sư đã được công nhận ở nước ta là 10.453, trong đó có 1.569 giáo sư và 8.884 phó giáo sư(11). Nếu chỉ xét trong giai đoạn 5 năm, gần đây nhất từ năm 2009 đến năm 2013, sau 5 đợt xét và công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư thì số lượng người đã được công nhận đạt tiêu chuẩn là 2.744 người, trong đó có 269 giáo sư và 2.475 phó giáo sư(12). Như vậy chỉ tính trong 5 năm gần đây, số lượng người đã được công nhận đạt tiêu chuẩn phó giáo sư chiếm khoảng 1/3 tổng số người đã được bổ nhiệm hoặc công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh này từ trước đến nay. Cũng trong 5 năm vừa qua, số lượng người đạt tiêu chuẩn giáo sư chiếm hơn 17% tổng số người đã được bổ nhiệm hoặc đạt tiêu chuẩn chức danh này từ trước đến nay. Những con số trên đây chứng tỏ trong giai đoạn đổi mới, nhất là những năm gần đây, số lượng tầng lớp trí thức, trước hết là tầng lớp trí thức tinh hoa có trình độ chuyên môn cao (giáo sư, phó giáo sư) đã gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, chưa có sự phù hợp giữa những người giữ các chức danh này và nơi làm việc của họ. Cụ thể là, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các giáo sư, phó giáo sư) lại có số lượng giáo sư, phó giáo sư ít. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì năm 2012, số giảng viên đại học trong toàn quốc là gần 59.700, trong đó chỉ có 348 giáo sư và 2.224 phó giáo sư(13). Như vậy, một số lượng lớn giáo sư, phó giáo sư - những người được bổ nhiệm để làm công việc giảng dạy ở bậc đại học lại không phải là giảng viên đại học. Đây là một tình trạng mất cân đối về mặt cơ cấu đội ngũ trí thức tinh hoa xét theo tiêu chí lĩnh vực công tác. Tất nhiên, sự mất cân đối này dẫn đến suy giảm năng suất làm việc hay hạn chế về mặt chất lượng của đội ngũ giáo sư, phó giáo sư do không có môi trường làm việc phù hợp với chức danh được bổ nhiệm. Một trong những chỉ báo quan trọng phản ánh hạn chế của đội ngũ tri thức là số lượng còn khiêm tốn các bài báo được công bố trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín của thế giới. Minh chứng cụ thể là trong năm 2013, số lượng các bài báo do các nhà khoa học Việt Nam công bố trên các tạp chí chuyên ngành uy tín trên thế giới (thuộc thư mục ISI) chỉ khoảng 2100 bài(14). Như vậy, vấn đề đặt ra đối với tầng lớp trí thức hiện nay là phải làm sao để nâng cao hơn nữa năng suất và hiệu quả nghiên cứu khoa học - một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

     Về tầng lớp doanh nhân, trước đổi mới, trong giai đoạn vận hành nền kinh tế tập trung bao cấp, tầng lớp doanh nhân ít được chú trọng. Sau đổi mới, tầng lớp doanh nhân đã được tạo điều kiện để phát triển. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (năm 2003) là văn bản đầu tiên của Đảng trong giai đoạn đổi mới khẳng định vai trò của doanh nhân, đã nhấn mạnh việc "coi trọng vai trò của các doanh nhân trong phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thiện khung pháp lý chung để các nhà doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất - kinh doanh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức hiệp hội các nhà doanh nghiệp"(15). Một trong những chủ trương quan trọng và mới đây về phát triển đội ngũ doanh nhân là Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 09/12/2011 về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã chỉ ra rằng "Đội ngũ doanh nhân là lực lượng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có năng lực, trình độ và phẩm chất, uy tín cao, sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và đảm bảo độc lập, tự chủ của nền kinh tế"(16).

     Trên thực tế, trong 30 năm vừa qua, số lượng doanh nhân đã tăng lên nhanh chóng. Một trong những chỉ báo phản ánh sự tăng trưởng số lượng doanh nhân là sự gia tăng số lượng doanh nghiệp. Theo Tổng cục Thống kê, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trong một số năm gần đây như sau: 106.616 doanh nghiệp năm 2005; 192.179 năm 2008; 236.584 doanh nghiệp năm 2009; 279.360 doanh nghiệp năm 2010; và 324.691 doanh nghiệp năm 2011(17). Như vậy, so với năm 2005 thì năm 2011 số lượng doanh nghiệp đã tăng hơn 3 lần. Điều này cho thấy sự tăng trưởng nhanh về mặt số lượng của đội ngũ doanh nhân Việt Nam - những người quản lý, lãnh đạo các doanh nghiệp. Về số lượng, doanh nhân Việt Nam, theo Chủ tịch phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết thì năm 2010 đội ngũ doanh nhân cả nước có gần 2,5 triệu người(18). Đội ngũ này đã lãnh đạo khu vực doanh nghiệp đóng góp trên 60% GDP, 70% nguồn thu ngân sách nhà nước, thu hút trên 7,4 triệu lao động, chiếm 16,3%b lực lượng lao động của toàn xã hội(19). Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh rằng năng lực, tài năng của tầng lớp doanh nhân cần được phát triển, phát huy hơn nữa mới đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển đất nước. Bởi vì, trên thực tế Việt Nam chưa có doanh nghiệp đạt tầm cỡ khu vực và thế giới. Sức cạnh tranh của một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất thấp. Nhiều doanh nghiệp lớn của nhà nước hoạt động không hiệu quả, tạo gánh nặng cho nền kinh tế đất nước. Thực tế này đòi hỏi các doanh nhân phải vươn lên để đảm đương được trọng trách lãnh đạo, điều hành, xây dựng, phát triển doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao, có tinh thần dân tộc, có trách nhiệm xã hội, hội nhập thành công vào nền kinh tế toàn cầu để góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

     2. Biến đổi phân tầng xã hội

     Cùng với sự biến đổi cơ cấu giai cấp như đã phân tích ở trên, trong 30 năm vừa qua sự biến đổi cơ cấu xã hội cũng cho thấy phân tầng xã hội có sự thay đổi to lớn. Dưới một góc nhìn nhất định, phân tầng xã hội là cơ cấu xã hội dựa trên việc phân hạng các cá nhân vào những lớp xã hội, những giai tầng xã hội nhất định. Có nhiều định nghĩa khác nhau về phân tầng xã hội, tuy nhiên nhìn một cách khái quát phân tầng xã hội là việc phân chia các cá nhân hay các nhóm xã hội thành các tầng, lớp khác nhau dựa trên một hay một số tiêu chí nhất định, trong những khoảng thời gian và không gian xác định. Những tiêu chí thường được đưa ra để phân chia các cá nhân, các nhóm trong xã hội thành những tầng/lớp khác nhau là: địa vị/tiềm lực kinh tế, quyền lực/ảnh hưởng chính trị, và uy tín xã hội. Như vậy, về cơ bản, phân tầng xã hội là một sự phân chia xã hội ra thành các tầng lớp dựa trên những đặc trưng về vị thế kinh tế - xã hội của các cá nhân. Ở Việt Nam, trước đổi mới, trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp phân tầng xã hội chưa được đề cập đến nhiều bởi lúc đó sự chênh lệch giàu nghèo, hay những biểu hiện cụ thể khác của phân tầng xã hội chưa rạch ròi và rõ nét. Trong bối cảnh trước đổi mới, vấn đề phân tầng xã hội bị che khuất bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ công hữu, trong đó mô thức thường được đề cập đến là "hai giai một tầng" (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức). Trong thời kỳ đổi mới, cơ chế quản lý cũ được dỡ bỏ cùng với việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phân tầng xã hội mới bộc lộ rõ ràng và ngày càng trở nên sâu sắc. Có thể nói rằng, sau 30 năm đổi mới, xã hội Việt Nam đã chuyển biến từ một xã hội mà sự phân tầng (nhất là sự phân tầng xét dưới góc độ kinh tế) chưa rõ nét thành một xã hội có cấu trúc tầng bậc rõ ràng. Nói cách khác, xã hội Việt Nam đã chuyển đổi từ một xã hội mà mọi người sàn sàn ngang bằng nhau sang một xã hội có nhiều tầng lớp khác nhau về thu nhập, mức sống, địa vị kinh tế, hưởng thụ văn hóa, quyền lực chính trị và uy tín xã hội.

     Trong quá trình chuyển biến xã hội đó, điểm rất đáng lưu ý là sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam. Theo một báo cáo được công bố vào cuối năm 2013 của Tập đoàn tư vấn Boston (The Boston Consulting Group - BCG) của Hoa Kỳ thì giai cấp trung lưu ở Việt Nam đang tăng mạnh. Dự báo, đến năm 2020, tầng lớp trung lưu và giàu có ở Việt Nam sẽ tăng gấp đôi so với năm 2012, tức là sẽ tăng từ 12 triệu người năm 2012 lên 33 triệu người vào năm 2020(20). Dưới một góc nhìn nhất định, có thể nói, để có một nền kinh tế vững mạnh nói riêng và một xã hội phát triển bền vững nói chung thì đất nước ta cần phải có một cơ chế quản lý hiện đại, một hệ thống giáo dục khai phóng và thực tiễn, một hệ thống tài chính liên thông, hội nhập với thế giới, và nhất là một tầng lớp trung lưu đủ lớn làm bệ đỡ cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Tầm quan trọng của tầng lớp trung lưu đối với sự phát triển kinh tế và xã hội được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó phải kể đến những chiều cạnh quan trọng sau đây: Thứ nhất, đây là tầng lớp tạo ra sản phẩm có số lượng lớn, chất lượng cao của nền kinh tế. Thứ hai, do nắm giữ phần tài sản và tạo ra thu nhập lớn nên chính họ là những người đóng thuế nhiều nhất cho ngân sách quốc gia. Thứ ba, tầng lớp trung lưu cũng chính là nhóm xã hội tiêu dùng nhiều, gửi tiền tiết kiệm nhiều, sử dụng tín dụng nhiều. Như vậy, có thể nói rằng tầng lớp trung lưu là nhóm xã hội đóng vai trò bệ đỡ và nuôi dưỡng nền kinh tế. Ngoài ra, cũng phải nói thêm rằng, tầng lớp trung lưu là lực lượng xã hội năng động nhất so với các nhóm xã hội khác. Bởi vì, muốn duy trì được địa vị kinh tế họ phải luôn nỗ lực, sáng tạo để kiếm tiền và giữ gìn tài sản. Vì vậy, có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam hiện nay là một trong những điều kiện tiên quyết/quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Vấn đề đặt ra là phải có chính sách, cơ chế phù hợp để xây dựng, phát triển tầng lớp trung lưu làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.

     3. Gia tăng bất bình đẳng xã hội

     Sự biến đổi phân tầng xã hội, trong đó sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu là một điểm sáng của quá trình biến đổi xã hội ở Việt Nam trong ba thập vừa qua. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn. Minh chứng cụ thể cho điều này là mức thu nhập bình quân đầu người (GDP per capital) liên tục tăng trong phạm vi cả nước, và công cuộc xóa đói giảm nghèo có nhiều tiến bộ. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, vào năm 1986 thu nhập bình quân đầu người/năm ở Việt Nam là 437 USD, năm 2010 là 1.334 USD, và năm 2012 là 1.755 USD(21). Về xóa đói giảm nghèo, theo số liệu điều tra năm 2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được thực hiện tại 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước, tỷ lệ hộ nghèo tại 62 huyện nghèo (theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo) giảm từ 58,33% (năm 2010) xuống còn 50,97% (năm 2011) và 43,89% (năm 2012), bình quân giảm trên 7%/năm(22).

     Mặc dù có những tiến bộ vượt bậc về thu nhập bình quân đầu người và xóa đói giảm nghèo, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội vẫn là một vấn đề rất đáng lo ngại. Nói cách khác, đi liền với tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo, phân tầng xã hội diễn ra trong gần 30 năm đổi mới vừa qua đã làm gia tăng bất bình đẳng xã hội. Có nhiều quan niệm khác nhau về bất bình đẳng xã hội. Tuy nhiên, nói một cách khái quát, bất bình đẳng xã hội là sự không ngang băng nhau về cơ hội xã hội của các cá nhân, các nhóm trong xã hội trong khoảng thời gian và không gian xác định. Sự không ngang bằng nhau về cơ hội xã hội của các cá nhân, các nhóm trong xã hội có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là do sự không ngang bằng nhau về cơ hội xã hội giữa các cá nhân, các nhóm thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau.

     Nhiều số liệu thực tế chứng minh rằng bất bình đẳng xã hội, trước hết là trên bình diện thu nhập, đã gia tăng một cách đáng lo ngại trong gần 30 năm đổi mới vừa qua. Thu nhập bình quân của nhóm 20% người giàu nhất so với thu nhập của nhóm 20% người nghèo nhất đã tăng từ 7 lần lên 8,5 lần trong giai đoạn 2004-2010(23). Năm 2012, nhóm hộ nghèo nhất có mức thu nhập bình quân là 512.000 đồng/tháng/người, trong khi đó, nhóm hộ giàu nhất có mức thu nhập bình quân là 4,8 triệu đồng/người/tháng(24). Một điều đáng lưu ý nữa là bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm dân cư ở giữa các khu vực địa lý. Năm 2012, trong khi tỷ lệ hộ nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ là 0,00033%; Đồng Nai là 0,91%; Đà Nẵng là 0,97%; Hà Nội là 1,52% thì tỷ lệ hộ nghèo ở Điện Biên là 38,25%; Lai Châu là 31,82%; Hà Giang là 30,13%; Cao Bằng là 28,22%; và YênBái là 29,23%(25). Năm 2012, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực đô thị là 3 triệu đồng/tháng; ở nông thôn là 1,6 triệu đồng/tháng(26). Khoảng cách thu nhập giữa nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất, và sự khác biệt về tỷ lệ người nghèo ở các địa phương như trên cho thấy một bức tranh rõ nét về bất bình đẳng xã hội trên bình diện thu nhập. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới thì tình trạng phân hóa giàu nghèo tại Việt Nam đang chuyển dần từ mức tương đối bình đẳng (năm 2002) sang mức chênh lệch thu nhập ngày càng tăng, và đang đạt mức độ nguy hiểm(27). Những con số này cho thấy khoảng cách giàu nghèo, hay bất bình đẳng về thu nhập, hiện nay vẫn là một điều cần đặc biệt chú ý.

     Hệ quả của bất bình đẳng về thu nhập, là sự khác biệt rõ ràng về chất lượng sống giữa nhóm giàu và nhóm nghèo. Kết quả khảo sát của Tổng cục Thống kê về mức sống dân cư năm 2010 cho thấy, tỷ lệ không có bằng cấp hoặc chưa bao giờ đến trường của người từ 15 tuổi trở lên ở nhóm hộ nghèo nhất là 38,1%, cao hơn 4,6 lần so với nhóm hộ giàu nhất(28). Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có bằng cao đẳng trở lên thuộc nhóm hộ giàu nhất gấp 121 lần nhóm hộ nghèo nhất. Chi tiêu cho y tế, chăm sóc sức khỏe bình quân 1 người/tháng của nhóm hộ giàu nhất cao gấp 3,6 lần so với nhóm hộ nghèo nhất, của hộ thành thị cao gấp 1,4 lần so với hộ nông thôn. Chi tiêu cho đời sống sinh hoạt của nhóm hộ giàu nhất cao gấp 4,6 lần so với nhóm hộ nghèo nhất. Cùng với các số liệu điều tra được công bố chính thức, quan sát thực tế cũng thấy rõ nhiều yếu tố phản ánh sự bất bình đẳng trong đời sống thường ngày giữa nhóm giàu và nhóm nghèo. Chẳng hạn, như nhóm nghèo thường sống trong những căn nhà tồi tàn, thiếu tiện nghi, thiếu thiết bị hiện đại phục vụ cuộc sống, đồng thời ít có cơ hội sử dụng các dịch vụ văn hóa tinh thần. Thực trạng này dẫn đến hàng loạt hệ quả xã hội tiềm tàng. Thứ nhất, người nghèo/nhóm nghèo cảm thấy bị thiệt thòi và do vậy dễ có tâm lý bất mãn đối với thực trạng bất bình đẳng xã hội và suy giảm lòng tin đối với chế độ. Thứ hai, bất bình đẳng xã hội cũng làm gia tăng khoảng cách xã hội giữa nhóm giàu và nhóm nghèo, dẫn đến liên hệ lỏng lẻo hay thiếu đoàn kết giữa các nhóm xã hội. Thứ ba, bất bình đẳng xã hội và khoảng cách giàu nghèo gia tăng trở thành môi trường thuận lợi cho tệ nạn và tội phạm phát triển.

     Dưới một góc nhìn nhất định, những hệ quả của bất bình xã hội đã nêu trên là những nhân tố tiềm tàng tạo nên mất ổn định xã hội, ngăn trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Trước thực trạng này, để phát triển bền vững xã hội Việt Nam, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và đời sống cho nhóm hộ nghèo, cận nghèo chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cần được quan tâm phát triển phù hợp nhằm hóa giải những nhân tố tiềm tàng tạo nên mất ổn định và cản trở sự phát triển xã hội. Đó là yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra không chỉ đối với các nhà hoạch định chính sách và thực thi chính sách xã hội, mà trước hết là ở trong bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

     Chú thích:

1. http://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview

2. Tổng cục Thống kê (2012)/Niên giám Thống kê, Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê, trang 201

3. Tổng cục Thống kê (2012)/Niên giám Thống kê, Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê, trang 122

4. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Xay-dung-giai-cap-cong nhan/2013/24144/Co-dung-la-giai-cap

cong-nhan-hien-nay-khong-con-su.aspx

5. http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/xaluan/item/20668502-xay-dung-giai-cap-nong-dan-viet-nam-vung-manh.html

6. Tổng cục Thống kê (2012)/Niên giám thống kê, Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê, trang 122

7. http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_kinhte/_mobile_hoinhap/item/12778302.html

8. http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30668&con người_id=243149

9. Tổng cục thống kê (2012)/Niên giám thống kê, Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê, trang 122

10. http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/164238/24-000-tien-si-viet-nam-dang-lam-gi-html

11. http://www.hdcdgsnn.gov.vn/news/detail/tabid/77/newsid/357/seo/Bao-cao-cua-GS-Tran-Van-Nhung-tai-Van-Mieu-Quoc-Tu-Giam/language/vi-VN/Default.aspx

12. http://www.hdcdgsnn.gov.vn/news/detail/tabid/77/newsid/357/seo/Bao-cao-cua-GS-Tran-Van-Nhung-tai-Van-Mieu-Quoc-Tu-Giam/language/vi-VN/Default.aspx

13. http://www.hdcdgsnn.gov.vn/news/detail/tabid/77/newsid/357/seo/Bao-cao-cua-GS-Tran-Van-Nhung-tai-Van-Mieu-Quoc-Tu-Giam/language/vi-VN/Default.aspx

14. http://www.nguyenvantuan.org/tin-tuc/thong-ke-ve-giao-su-tien-si-o-viet-nam.aspx.UOFWHKh_uok

15. http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30580&cn_id=36814

16.http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=

279&leader_ topic=688&id=BT28121157905

17.Tổng cục thống kê (2012)/Niên giám thống kê, Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê, trang 202.

18. http://dddn.com.vn/hoi-thao-chu-tich-ho-chi-minh-voi-doanh-nghiep-doanh-nhan/chu-tich-vcci-vu-tien-locdoanh-nhan-viet-nam-dai-dien-cho-suc-san-xuat-mơi-20101007095013955.htm

19. http://dddn.com.vn/hoi-thao-chu-tich-ho-chi-minh-voi-doanh-nghiep-doanh-nhan/chu-tich-vcci-vu-tien-loc-doanh-nhan-viet-nam-dai-dien-cho-suc-san-xuat-mơi-20101007095013955.htm

20.https://www.bcgperspectives.com/content/articles/consumer_insight_growth_vietnam_myanmar_

southeast_asianewgrowth_ frontier/

21. http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.CD

22. http://vukehoach.mard.gov.vn/Default.aspx?id=1283

23. http://vov.vn/Xa-hoi/Chenh-lech-giau-ngheo-o-Viet-Nam-len-toi-95-lan/296156.vov

24.http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=100004&cn_id=638976

25. http://vukehoach.mard.gov.vn/Default.aspx?id=1283

26.http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=100004&cn_id=638976

27.http://giamngheo.molisa.gov.vn/VN/NewsDetail.aspx?ID=70&CateID=75

28.http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=512&idmid=5&ItemID=12425





Share Post




Một số bài viết khác

- Sự xung đột của các tư tưởng kinh tế - Tác giả: Lawrence H.White

- Tại sao cần đọc các tác phẩm cổ điển về kinh tế? - Tác giả: Peter J. Boettke

- Sự đụng độ của các định nghĩa - Tác giả: Edward Said - Biên dịch: Lê Nguyên Long

- Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học - Tác giả: Dani Rodrik - Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Hai hệ thống pháp luật Common Law và Civil Law - Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn

- Chủ nghĩa hiện thực tân cổ điển và các lý thuyết về chính sách đối ngoại - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Ánh | Hiệu đính: Trương Minh Huy Vũ

- Phân tích chính sách đối ngoại - Biên dịch: Đào Tuấn Ninh | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Mối quan hệ biện chứng nội sinh và ngoại sinh tạo thành sức mạnh của dân tộc và của sự phát triển - Tác giải: GS.TS. Đinh Xuân Dũng