Lý thuyết về thực thể tôn giáo - Dẫn theo đề tài TN3/X6 "Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên"

25/01/2016 06:12

LÝ THUYẾT VỀ THỰC THỂ TÔN GIÁO


      Từ khá lâu, nhận thức về hiện tượng tôn giáo ở Việt Nam tượng chừng đã được khẳng định tương đối chắc chắn, ít nhất là trong khuôn khổ của giới nghiên cứu tôn giáo nói riêng. Thế nhưng, khi tác giả Đặng Nghiêm Vạn đề xuất các khái niệm cơ bản, trong đó có khái niệm tôn giáo (trong trường hợp này là đạo Cao Đài) "là một thực thể khách quan xã hội..." trong cuốn Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài năm 1995[1] thì dường như không mấy ai tập trung làm rõ hơn thêm cái khái niệm "thực thể khách quan xã hội" này nó như thế nào? Trái lại, người nghiên cứu tôn giáo, mà sau đó thấy xuất hiện ngày một nhiều, đã ít dùng khái niệm "thực thể", lại gần như "mặc định" hiện tượng tôn giáo tồn tại dưới hai hình thức là "tín ngưỡng"[2] và "tôn giáo" tách biệt nhau, chưa nói tới khái niệm "tín ngưỡng dân gian" được dùng một cách tràn lan, và bị coi là cấp độ thấp hơn tôn giáo. Đó là một nhầm lẫn đáng tiếc và kéo dài. Vậy, liệu có hướng tiếp cận hiện tượng tôn giáo thế nào để khắc phục được cách nhìn nhằm lẫn như vậy? Có thể trả lời đó là cách tiếp cận hệ thống - thực thể tôn giáo.

     Nhưng điều trước tiên cần làm là thống nhất về cách hiểu tôn giáo, chức năng của tôn giáo đối với xã hội, hay nói cách khác là tôn giáo trong tồn tại thực của nó là một thực thể xã hội. Xin nhắc lại khái niệm tôn giáo, chức năng của tôn giáo đối với xã hội trước và sau năm 1990 là năm ban hành Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự khác nhau khá cơ bản về mặt nhận thức. Tuy nhiên, trong thực tế, nhận thức khoa học của các nhà nghiên cứu vẫn còn rất chênh nhau, nếu không muốn nói là có nhiều điểm chưa đạt được sự thống nhất thật sự của một bộ môn khoa học cần có, khiến cho công tác nghiên cứu gặp không ít khó khăn khi cần phải trao đổi và thảo luận. Lấy một thí dụ tưởng như rất xa với chủ đề của đề tài này, ta thường hay nghe: quản lý nhà nước về tôn giáo, một khái niệm thoạt đầu nghe thuận tại, nhưng đi sâu vào nội dung, là một khái niệm mơ hồ, không rõ ràng và dễ gây hiểu nhầm thành nhà nước kiểm soát niềm tin tôn giáo. Thực ra phải gọi là: Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Đây là khái niệm có nội hàm và ngoại diên rõ ràng, vừa đủ để gác ra ngoài những gì thuộc về bản chất của tôn giáo là niềm tin tôn giáo, nghi lễ tôn giáo hay các sinh hoạt tôn giáo của người tín đồ trong khuôn khổ cộng đồng và tổ chức của họ. Cũng có nghĩa nhà nước và luật pháp chỉ điều chỉnh hoạt động của tổ chức tôn giáo. Hoạt động đó mới phát sinh quan hệ xã hội, tác động đến xã hội thay vì chỉ với nội bộ cộng đồng và tổ chức tôn giáo đó. Điều này, rõ ràng có liên quan đến quan niệm tôn giáo như là một khái niệm thuần túy thuộc thượng tầng kiến trúc, mà quên mất các phương diện tồn tại khác, thực tế của thực thể tôn giáo như kiến trúc, nghệ thuật, nghi lễ, tổ chức... để thể hiện niềm tin tôn giáo của họ. Đó là chưa kể để thuận lợi cho việc quản lý, cách định nghĩa quan phương về khái niệm tôn giáo ở Việt Nam cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiểu sự tồn tại của tôn giáo như thực tế tối giản và máy móc, khi khu biệt nó chỉ trong tiêu chí cứng: giáo chủ, giáo lý, giáo luật, giáo hội và tín đồ[3]. Đó là chưa kể đến khái niệm tôn giáo còn được định nghĩa dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã tràn lan trong thực tế[4]. Như vậy, đã đến lúc phải đặt lên bàn thảo luận về sự không thống nhất đó. Trước hết, là cách hiểu về tôn giáo để từ đó hiểu về chức năng của tôn giáo. Xin không nhắc lại các định nghĩa tôn giáo đã có và cách tiếp cận mácxít coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, có tính độc lập tương đối, và đã có phần nào diễn giải không đúng với tinh thần của K. Marx khi nói về tôn giáo.

Ở đây chỉ muốn đưa ra cách tiếp cận mà theo thiển ý là phản ánh được thực chất tồn tại của tôn giáo trong xã hội. Đó là cách tiếp cận hệ thống, hay còn gọi là hệ thống luận (systémique) và từ đó coi tôn giáo là thực thể xã hội tồn tại một cách khách quan. Nói cách khác, tôn giáo là tồn tại có tính thực thể, hay còn gọi là thực thể tôn giáo (faits religieux). Một thực thể tôn giáo không chỉ là sự kiện tiêu biểu hiểu theo ý niệm thời gian, mà còn là thực thể khách quan theo ý niệm không gian của xã hội. Tôn giáo được thể hiện như một thực thể trong không - thời gian: nó vừa mang trong nó lịch sử, vừa mang hơi thở củ thời đại nó tồn tại[5]. Vậy một thực thể tôn giáo có thể được nhận biết ra sao? Có đặc tính gì để phân biệt nó với những thực thể xã hội (faits socials) khác?

     Nhận thức về hiện tượng tôn giáo không phải đến bây giờ mới được bàn luận làm rõ. Sự ra đời của xã hội học, bắt đầu từ Auguste Comte     [6], đã đem lại một sinh khí mới cho nhận thức về hiện tượng phổ biến này trong lịch sử nhân loại, ngoài hai bộ môn quen thuộc trước đó là triết học về tôn giáo và thần học. Đến lượt nó, xã hội học tôn giáo - một phân nhánh của xã hội học xuất hiện trong giới nghiên cứu Kitô giáo cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, cũng đã liên tiếp bổ sung các khái niệm công cụ. Tuy nhiên, xã hội học tôn giáo đó không thể thỏa mãn được yêu cầu nghiên cứu hiện thực tôn giáo ngoài Kitô giáo, nên đã xuất hiện xã hội học về các tôn giáo, hay gọi tắt là xã hội học về tôn giáo, một phân ngành chuyên biệt của xã hội học chuyên nghiên cứu tôn giáo với tính cách thực thể xã hội. Đến năm 1992, trong xã hội học về tôn giáo xuất hiện khái niệm "fait religieux" trong cuốn Le Fait Religieux (Thực thể tôn giáo[7]) do Jean Delumeau chủ biên[8]. Khái niệm thực thể tôn giáo xuất hiện được tranh luận rất sôi nổi ở Pháp và sau đó châu Âu (Đức, Bỉ và giới xã hội học Anh ngữ). Đến năm 2002, với tác giả Régis Débray, qua báo cáo nhan đềL'Enseignement du Fait Religieux dans L'ecole Laique[9], thì nội hàm của khái niệm được làm rõ thêm. Ngay sau đó, ông viết thêm để diễn giải rõ hơn "một" fait religieux trong Le "Fait Religieux": Définitions et Problemes ("Thực thể tôn giáo": các định nghĩa và vấn đề). Ông cho một thực thể (tôn giáo) có ba đặc tính:

     - Là thực thể được nhận biết và thừa nhận của tất cả mọi người;

     - Là thực thể không bị xét đoán về bản chất, về trạng thái luân lý và đạo đức cũng như nhận thức luận khi thừa nhận;

     - Là thực thể mang tính toàn thể.

     Cũng phải nói thêm ông đã diễn giải tương đối cụ thể một thực thể tôn giáo là một tập hợp "khổng lồ" các phương diện khác nhau đã tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau. Tuy nhiên, vẫn còn có thể chưa tin tưởng lắm vào cách diễn giải này.

     Đến năm 2009, thực thể tôn giáo đã được diễn giải có tính chất rõ ràng hơn nữa. Đó là khi ra đời cuốn Enseigner les Faits Religieux (giảng dạy các thực thể tôn giáo) của Dominique Borne và Jean-Paul Willaim[10]. Cần nhấn mạnh lần này hai tác giả không dùng fait religieux như danh từ số ít nữa mà dùng số nhiều, các thực thể tôn giáo (faits religieux). Trong chương một của cuốn sách, hai ông đã điểm qua toàn bộ các nhận thức về lịch sử tôn giáo và giảng dạy tôn giáo ở Pháp và châu Âu dưới tiêu đề Sự ra đời của lịch sử tôn giáo ở châu Âu và trung lập hóa "các khoa học tôn giáo" ở Pháp (La Naissance de L'histoire des Religions en Europe et la Laicisation des "Sciences Religieuses" en France). Theo đó, một chặng đường dài từ giữa thế kỷ 19 cho đến sau Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai được phác họa dù nhanh nhưng rất đầy đủ các bước trung lập hóa các bộ môn nghiên cứu tôn giáo vốn thuộc về các đại học có khoa thần học, triết học. Nguyên tắc trung lập hóa nghiên cứu tôn giáo là bất di dịch của các bộ môn nghiên cứu tôn giáo ở châu Âu và Pháp ngày nay. Chương hai là chương các tác giả đi tìm lời giải cho câu hỏi: Thế nào là thực thể tôn giáo? Chính trong chương này, ta biết được rằng khái niệm thực thể tôn giáo đã được dùng trong Anh ngữ qua thuật ngữ Religious facts. Từ chỗ tranh luận để có thể giảng dạy "lịch sử các tôn giáo" vào những năm 1990 trong môi trường đại học và giáo dục chung, thì đến năm 2002, khái niệm "thực thể tôn giáo" đã bước vào môi trường nhận thức quan phương ở Pháp. Đó là thông qua bản báo cáo của Régis Débray nhan đề Giảng dạy về thực thể tôn giáo trong trường học duy thế tục (Enseignement du Fait Religieux dans L'ecole Laique) trong cuộc hội thảo liên bộ môn khoa học do Vụ Giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục tổ chức cũng có tên Giảng dạy thực thể tôn giáo. Không những thế, khái niệm thực thể tôn giáo đã vào Nghị viện châu Âu năm 2004 qua hội thảo tại Malta do Ủy ban Nhân quyền của Hội đồng châu Âu tổ chức. Qua bản báo cáo của mình, Débray đã làm rõ hơn: "Bằng từ "thực thể", chúng tôi nghĩ cái gì đó sẽ được xác nhận và chứng minh. Do đó, giảng dạy các thực thể tôn giáo là muốn nói đến các tôn giáo một cách tương đối khách quan". Một người khác, René Rémond, qua lời nói đầu của cuốn sách Châu Âu và thực thể tôn giáo (L'Europe et le Fait Religieux)xuất bản năm 2004, cũng thừa nhận cách diễn đạt "thực thể tôn giáo" và nhấn mạnh cách diễn đạt này "được chấp nhận do bởi tính khách quan của nó: Có nghĩa là tính trung lập của nó cũng như tính bao phủ của nó cho phép xác định thái độ tán thành cá nhân cũng như để chỉ một chiều kích xã hội"[11]. Hai tác giả vừa đề cập còn chỉ ra thêm bằng cách dùng khái niệm thực thể tôn giáo sẽ khắc phục được cách hiểu sai lầm của giảng dạy "Lịch sử các tôn giáo" do bởi dù đề cập đến các tôn giáo nhưng lại chia cắt chúng như là các truyền thống thực hành tôn giáo riêng trong các bối cảnh lịch sử và địa lý khác nhau; cũng như hiểu lịch sử các tôn giáo chỉ như là sự du nhập của các tôn giáo lớn. Một khái niệm khác là "Cái" tôn giáo (Le religieux)[12] như một khái niệm nhằm bao chứa các tôn giáo theo nghĩa thể hiện các tôn giáo thành những thiết chế tôn giáo mà nhắc đến thì giống như một danh mục hay chuẩn mực như kiểu Islam giáo, Kitô giáo, Phật giáo... Cần lưu tâm cái mà M. Mauss đã viết năm 1904 trong trường hợp đang bàn là: "Trong thực chất, không có sự vật nào, bản chất nào được gọi là Tôn giáo, chỉ có các hiện tượng tôn giáo, ít hay nhiều được sắp xếp thành các hệ thống mà người ta gọi là các tôn giáo và các hệ thống đó có một sự tồn tại lịch sử xác định, trong một nhóm người và trong các thời gian nhất định". Vậy thì sao lại gọi là "thực thể"? Hơn nữa, thực thể này có phải là số nhiều không? Đây rõ ràng không phải là những trò chơi may rủi của các bộ môn khoa học nghiên cứu hiện tượng tôn giáo, của các cuộc tranh luận tôn giáo/mê tín, tôn giáo/ma thuật, giáo hội/giáo phái..., hay nhất là các chuyên khảo về chính giáo/dị giáo, tôn giáo hợp pháp/ tôn giáo bất hợp pháp, tôn giáo thể chế hóa/tôn giáo lệch lạc, mà đây là cách hiểu các hiện tượng tôn giáo như là các cách biểu đạt sống động và tiến triển, giống như mọi hiện tượng xã hội khác[13].

 

 Chú thích:


[1] Viện Nghiên cứu tôn giáo, Đặng Nghiêm Vạn chủ biên (1995), Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.13.

[2] Đại diện cho người lập thuyết về tồn tại riêng biệt của tín ngưỡng, cụ thể là "tín ngưỡng thành hoàng" là Nguyễn Duy Hinh. Xem: Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, đặc biệt xem: Chương 3: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nxb KHXH, H, tr.320-414. Lập luận của ông chủ yếu dựa trên nền tảng của sự phân tích khái niệm TIN. Vì thế, ông đã tước bỏ đi khá nhiều các phương diện khác của cái mà ông gọi là "tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam" như miếu thờ, nghi thức tế, các trình diễn, các tục kiêng cữ (taboo),... tức là thể hiện tính chính thể của "tín ngưỡng" này và đã khiến nhiều người dựa vào đó xem tín ngưỡng như một hình thức tồn tại riêng biệt của hiện tượng tôn giáo. Về khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng tôn giáo, tôn giáo, chủ nhiệm đề tài đã bàn trong bài Nhận thức lại về các khái niệm "tín ngưỡng" và "tôn giáo" từ góc độ nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 8, 2013, tr.3-15.

[3] Loại định nghĩa này coi như không định nghĩa vì chỉ là một cách mô tả các yếu tố được coi là cấu thành tôn giáo.

[4] Về điểm này, xin xem: Y. Lambert (1991), Le Tour de "Babel" des Définitions Religieuses, trong Social Compass số 38 (1), tr.73-85; bản dịch trong Viện Nghiên cứu tôn giáo (1994), Về tôn giáo, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.185-186.

[5] Về cách tiếp cận hệ thống, xin dẫn lại bản dịch của nghiencuuquocte.net có nhan đề Cách tiếp cận hệ thống và các lý thuyết, #134, 19/3/2014 (Nghiencuuquocte.net-134-Cach-tiep-can-he-thong-va-ly-thuyet.pdf); và cũng xem: http://fr.wikipedia.org/wiki/Syst%C3%A9mique sẽ trình bày ở phần dưới.

Xin đồng ý với cách lý giải cách tiếp cận hệ thống mà bài Cách tiếp cận hệ thống và các lý thuyếtđã trình bày, mặc dầu nó đề cập đến chủ đề bàn luận về chính trị.

[6] Xem: Auguste Comte: textes choisis et présentés, Éd. Bordas, Paris, 1968.

[7] Xem: http://eduscol.educatinon.fr/cid46334/le-fait-religieux-%A0-definitions-et-problemes.html. Một trong những lý do đó để chuyển ngữ fait religieux là sự kiện - thực thể tôn giáo hay gọn lại là thực thể tôn giáo bắt nguồn từ cách chuyển ngữ trước đây của các văn bản xã hội học khi dịch fait social là sự kiện tôn giáo. Nhưng khi đi vào cụ thể hơn, danh từ fait trong các đại từ điển lại có tới ít nhất hai nhóm nghĩa. Nhóm nghĩa thứ hai có một nghĩa dùng danh từ faitnhư là tồn tại hiện thực để đối lập với ý niệm, giấc mơ (Xem: Le Robert Dictionnaire d'aujourd'hui, Paris, 1993). Như vậy, nếu chỉ dịch là sự kiện như xã hội học thì có tính chất tuyển tính, còn nếu dịch là sự kiện - thực thể là bao gồm cả không gian hiện sinh, hay là không - thời gian của hiện tượng được coi là thực thể như tôn giáo.

[8] Xem: Jean Delumeau (1993), Le Fait Religieux, Éd. Fayard, Paris. Đáng lưu ý là danh từ "fait" (thực thể) được dùng với số ít. Có nghĩa chỉ tạo ra cách hiểu có một "sự kiện", một "thực thể". Điều đó khiến khái niệm này đã không được chấp nhận một cách rộng rãi cho đến năm 2002.

[9] Xem: Resgis Dé bray (2002), http://www.ladocumentationfrancaise.fr/var/storage/rapports-publics/024000544/0000.pdf

[10] Dominique Borne et Jean-Paul Willaim (2009), Enseigner les Faits Religieux, Armand Colin, Paris.

[11] Xem: Dominique Bonrne et Jean-Paul Willaim (2009), Enseigner les faits religieux, sđd, tr.38.

[12] Đây là một danh từ, dùng để chỉ các hiện tượng thuộc về tôn giáo, cũng có một nghĩa là cái thiêng. Trong các bản tiếng Pháp, nó đã trở thành một thuật ngữ để chỉ những gì thuộc về tôn giáo một cách khái quát nhất, gác qua một bên các chiều kích cụ thể của cái mà ta gọi là tôn giáo.

[13] Xem: Dominique Borne et Jean-Paul Willaim (2009), Enseigner les faits religieux, sđd, tr.40.

 (Dẫn theo báo cáo tổng hợp đề tài " Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên", mã số: TN3/X6)




Share Post




Một số bài viết khác

- Lý thuyết "trung tâm và ngoại vi" trong nghiên cứu không gian văn hóa - Tác giả: GS.TS. Ngô Đức Thịnh

- Các trường phái lý thuyết chính trong nhân học - Tác giả: Tùng Nguyễn

- Các lý thuyết về chính trị thế giới - Tác giả: Charles W. Kegley, JR. & Gregory A. Raymond - Biên dịch: Lê Thùy Trang - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Cách tiếp cận hệ thống và các lý thuyết, biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh | Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Như Thanh

- Tiếp cận lý thuyết về hệ giá trị - Tổng hợp Th/s Trần Minh Hoàng

- Lý thuyết về thể chế và thể chế phát triển vùng - Dẫn theo PGS.TS Hà Huy Thành

- Lý thuyết về chức năng vùng - Dẫn theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng

- Lý luận tự quản xã hội chủ nghĩa của Nam Tư - Tổng hợp Ths. Trần Minh Hoàng