Lý thuyết về chức năng vùng - Dẫn theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng

25/01/2016 06:00

LÝ THUYẾT VỀ CHỨC NĂNG VÙNG


Vùng trong ở đây được hiểu như bộ phận của quốc gia, là thực thể có các dấu hiệu đặc trưng. Nói cách khác, vùng là phần đất đai, hoặc là khoảng không gian thuộc quốc gia, có những đặc điểm nhất định về tự nhiên, kinh tế, xã hội và thể chế, phân biệt với các phần khác ở xung quanh; hay vùng là một bộ phận của quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống, gồm quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó và có mối quan hệ chọn lọc với không gian bên ngoài. Phân hóa lãnh thổ sẽ tạo nên vùng, tổng hợp hóa lãnh thổ sẽ tạo nên lãnh thổ quốc gia – dân tộc.

     Theo Hettne (1999), vùng có thể được xem xét dưới nhiều góc độ, với mức độ đồng nhất khác nhau: i) Vùng như một đơn vị địa lý; ii) Như một hệ thống xã hội; iii) Như một sự hợp tác có tổ chức; và iv) Như một xã hội dân sự.

     Các nghiên cứu phân vùng cũng có thể xem xét vùng trên các khía cạnh: i) Các đặc trưng về địa lý - tự nhiên; ii) Các đặc trưng về xã hội - văn hóa; iii) Các đặc trưng về chính trị - hành chính; iv) Các đặc trưng về kinh tế; và v) Tổng hợp các mức độ của hai hay nhiều khía cạnh nêu trên.

     Chức năng của vùng, đặt trong quá trình phát triển, được xem xét trên các khía cạnh chủ yếu sau:

     i) Chuyên môn hóa sản xuất và thị trường tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ

     Vùng là nơi tập trung các hoạt động chuyên môn hóa dựa trên những lợi thế. Mỗi vùng, hay địa phương trong vùng tập trung sản xuất những sản phẩm mà nó có lợi thế hơn các vùng khác xuất phát từ tính đa dạng trong nhu cầu, nhờ đó mỗi địa phương có thế mạnh trong việc sản xuất các sản phẩm phân biệt. Chuyên môn hóa càng sâu thì khả năng phát triển càng cao.

     Tuy nhiên, vùng khác quốc gia ở chỗ chúng chuyên môn hóa và cạnh tranh trên cơ sở lợi thế tuyệt đối (so với vùng khác) hơn là lợi thế tương đối, do có ít rào cản cho tự do di chuyển nguồn lực. Và trong điều kiện tự do di chuyển một cách tương đối lao động và vốn thì lợi thế tuyệt đối sẽ không nằm ở chi phí nhân công và vốn rẻ mà ở các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai, tài nguyên, vị trí địa lý...) và một vài yếu tố xã hội khác. Camagni (2002) đưa ra quan điểm vùng được cho là có lợi thế tuyệt đối khi nó sở hữu các tài sản công nghệ, xã hội, thể chế, hạ tầng ưu việt hơn các vùng khác. Những tài sản này mang tính ngoại sinh nhưng mang lại lợi ích cho các chủ thể trong vùng mà không có lực hấp dẫn nào khác có thể tạo ra sự phân bổ lại các hoạt động kinh tế.

     EC (1999) cũng cho rằng mặc dù trên thực tế có những doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao và sức cạnh tranh yếu ở mọi vùng, nhưng có những đặc điểm chung trong vùng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của tất cả các doanh nghiệp hay hộ gia đình ở đó. Những đặc điểm chung này có thể được xem như tính ngoại sinh vùng hoặc các nguồn lực nằm ngoài các doanh nghiệp cá biệt ở địa phương và được các doanh nghiệp này dựa vào một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, và do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả, khả năng đổi mới, sự linh hoạt và năng động của các doanh nghiệp đó.

     Vùng cũng là không gian cho các hoạt động sản xuất dựa trên lợi thế nhờ quy mô. Lợi thế nhờ quy mô có thể mang tính nội sinh do các quá trình diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp (phân công lao động hợp lý hơn, tiết kiệm các chi phí cố định,...), dẫn tới sản lượng tăng thì năng suất tăng. Lợi thế nhờ quy mô cũng có thể mang tính ngoại sinh, là kết quả của các tương tác thị trường, hiệu ứng lan tỏa kiến thức, của sự sẵn có nguồn lao động có kỹ năng, của khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào và sự thuận lợi của đầu ra sản phẩm.

     Krugman (2004) cho rằng những lợi thế về tập trung sản xuất - sự tương tác giữa quy mô thị trường và lợi thế nhờ quy mô - và chi phí vận tải mới là điểm mấu chốt tạo nên sự khác biệt vùng. Các lợi thế ban đầu về tự nhiên (lợi thế tuyệt đối) chỉ có ý nghĩa quan trọng lúc đầu, còn về sau chính sự tương tác giữa các chủ thể bên trong sự tập trung mới tạo nên các dòng di chuyển nguồn lực. Nói cách khác sự tập trung tạo ra, đồng thời ngày càng làm sâu sắc thêm, các lợi thế của vùng thông qua tính kinh tế ngoại sinh. Tuy nhiên lực hút của sự tập trung không phải là vô hạn mà bị hạn chế bởi các lực ly tâm do chính sự tập trung tạo ra (tính phí kinh tế ngoại sinh). Điều này tạo ra sự cân bằng động trong việc hình thành, phát triển sự tập trung các hoạt động kinh tế - xã hội, và đây là điều quan trọng khi xem xét, đánh giá và thúc đẩy sự phát triển vùng.

     ii) Tạo ra không gian xã hội đặc thù với những mối quan hệ giữa người với người đa dạng và phong phú

     Vùng tạo thành không gian xã hội với các yếu tố dân số, nhân khẩu, sắc tộc, chủng tộc, dân tộc,... Cùng với các yếu tố tự nhiên, các yếu tố xã hội này tạo nên các cộng đồng dân cư với cách thức cư trú, sinh hoạt, sinh kế và phương thức sản xuất đặc thù. Trải qua tiến trình lịch sử, các cộng đồng người hình thành nên các cách thức tổ chức xã hội với hệ thống thứ bậc trong gia đình và cộng đồng, các quan niệm, chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, các cơ chế khuyến khích, thưởng phạt, các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng, các nhóm sở thích và lợi ích,...

     Ở góc độ khác, đồng thời, các cộng đồng dân cư này tạo nên không gian văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng. Điều này được thể hiện thông qua các di sản vật thể như các công trình xây dựng, điêu khắc, kiến trúc, khu di sản, khu lăng tẩm, khu đất thiêng,...; và các di sản phi vật thể như ngôn ngữ, chữ viết, các sinh hoạt thể thao, văn hóa, văn nghệ dân gian, các lễ hội mang tính phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng hoặc tổng thể các hình thức đó (Hà Hữu Nga, 2007).

     Vùng cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt chính trị như bầu cử, ứng cử cả ở cấp trung ương và địa phương, nhằm lựa chọn người cho việc nắm giữ quyền lực nhà nước. Vùng cùng lúc cũng là nơi bộ máy nhà nước cấp địa phương vận hành nhằm hoạch định và thực thi các luật lệ và chính sách quốc gia và địa phương, từ đó hình thành nên các thực thể chính trị - hành chính vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù.

     Vùng còn là không gian cho các hoạt động dân sự của cá nhân, nhóm, cộng đồng, tổ chức (các hội, hiệp hội, các nghiệp đoàn,...). Các hoạt động đa dạng này hình thành nên xã hội dân sự năng động, nằm ngoài khu vực nhà nước và doanh nghiệp, nhằm giám sát, phản biện xã hội và bảo vệ quyền lợi thành viên. Vùng cũng là không gian cho các hoạt động hợp tác giữa khu vực dân sự với nhà nước và thị trường, hình thành nên khu vực hỗn hợp trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường...

     iii) Tạo ra một tập hợp các nguồn lực tự nhiên gắn bó hữu cơ với nhau, đồng thời có quan hệ chặt chẽ, không phân chia với các tập hợp nguồn lực tự nhiên vùng khác

     Vùng là một tập hợp nhân tố tự nhiên, bao gồm:

     - Môi trường - cảnh quan với các yếu tố tạo thành không gian địa hình, địa mạo (núi, rừng, sông, suối, hồ nước, thung lũng, biển, đảo, vũng vịnh, cửa sông,...), tạo thành một lưu vực sông, một hòn đảo, bán đảo hoặc quần đảo, một dải ven biển, một bồn địa, một khu vực cao nguyên,...

     - Các nguồn tự nhiên trong một môi trường cảnh quan nhất định, gồm có khí hậu, thời tiết, đất, nước, khoáng sản, lâm thổ sản, các sản phẩm đa dạng sinh học trên mặt đất, trong lòng đất, trong không trung, trong nước,...

     - Vị trí địa lý, đặc biệt là khi vị trí đó hội tụ đầy đủ các nhân tố tập trung quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội,... (Hà Hữu Nga, 2007).

     Các nhân tố trên kết hợp với nhau tạo thành những đặc trưng về tự nhiên của vùng, phân biệt nhưng không cắt rời với các vùng khác. Các nhân tố tự nhiên đó vừa là không gian, vừa là đầu vào đồng thời hấp thụ đầu ra của hệ thống kinh tế - xã hội, được thể hiện trên một số khía cạnh cơ bản:

     - Có các chức năng điều tiết: Liên quan tới khả năng của các hệ sinh thái và bán sinh thái tự nhiên điều tiết các quá trình tự nhiên cơ bản và hệ trợ giúp cuộc sống, qua đó góp phần vào việc duy trì một môi trường lành mạnh với không khí, nước và đất sạch.

     - Đảm nhận chức năng môi trường sống: Các hệ sinh thái tự nhiên cung cấp môi trường sống và tái sinh cho các loài động thực vật, và do đó góp phần vào bảo vệ đa dạng sinh học và gien và duy trì số lượng các loài.

     - Có chức năng sản xuất: Cung cấp các nguồn lực, từ thực phẩm và nguyên vật liệu đến năng lượng và nguyên liệu gien.

     - Có chức năng thông tin: Các hệ sinh thái tự nhiên góp phần vào việc duy trì sức khỏe tinh thần bằng cách cung cấp các tiện ích vui chơi, giải trí và khám phá tự nhiên;

     - Có chức năng bảo tồn những lựa chọn cho tương lai (các thế hệ sau có thể tiếp cận với sự đa dạng của tự nhiên như thế hệ trước) (Heal et al., 2001).

     iv) Tạo ra sự lan tỏa kiến thức, công nghệ và tạo điều kiện cho các hoạt động đổi mới

     Vùng là phạm vi không gian thích hợp nhất cho sự lan tỏa kiến thức. Nếu xem sự phát triển là mang tính nội sinh, thì nó gắn với các hệ thống kinh tế - xã hội trong vùng, mà các thành tố của chúng có ý nghĩa quyết định đến khả năng kinh doanh, nhân tố sản xuất vùng, các kỹ năng có liên quan của các tác nhân trong việc thu nhận và tích lũy kiến thức, khả năng ra quyết định, khả năng ứng phó với những thay đổi và thu hút các nguồn lực từ nơi khác,... (Capello, 2007).

     Các cơ chế lan tỏa kiến thức trong vùng gồm ba nhóm.

     Thứ nhất, lan tỏa do sự gần gũi về mặt địa lý.

     Các hoạt động đổi mới có khuynh hướng tự nhiên là tập trung vào một địa điểm nào đó bởi vì địa điểm tập trung cho phép khai thác các kiến thức khoa học và công nghệ của các trung tâm nghiên cứu và trường đại học, cho phép tiếp cận với các nguồn kiến thức cần thiết cho việc học hỏi, và đảm bảo sự sẵn có của lao động có kỹ năng và dịch vụ cao cấp. Ở cấp vùng, cung và cầu đối với các nhân tố đổi mới có tác động tương hỗ và củng cố lẫn nhau. Các tổ chức tiên phong truyền bá những kiến thức công nghệ và quản lý ra môi trường xung quanh; trong khi môi trường xung quanh cùng lúc duy trì các hoạt động của họ. Kết quả là hình thành sự phân cực mang tính tích lũy các hoạt động nghiên cứu và đổi mới; các hoạt động này lại củng cố khuynh hướng tập trung.

     Thứ hai, sự gần gũi về mặt quan hệ tạo ra các "trường đổi mới" (innovative milieux) và sự "học hỏi tập thể" (collective learning). Các mối quan hệ giữa những chủ thể vùng có tác động quan trọng đối với năng lực đổi mới và sự thành công của một vùng nhất định. Sự đồng thuận giữa các chủ thể được thúc đẩy bởi sự gần gũi về mặt địa lý và sự tương đồng về văn hóa, và do đó mang lại lợi thế động cho họ. Các mối quan hệ kinh tế và xã hội biểu hiện dưới hai dạng trong "trường"; i) Các mối quan hệ chủ yếu là phi chính thức, phi thương mại và sự chuyển giao kiến thức được thực hiện thông qua chuỗi di động việc làm và quá trình bắt chước giữa các doanh nghiệp, tổ chức; và ii) Các thỏ thuận hợp tác mang tính chính thức hơn và chủ yếu có tính liên vùng trong lĩnh vực phát triển công nghệ, đào tạo nghề và đào tạo tại chỗ, cơ sở hạ tầng và dịch vụ (Martin, 2003; Capello, 2007). Các mối quan hệ thuộc loại thứ nhất là chất keo tạo ra hiệu ứng "trường", chúng được bổ sung bởi mối quan hệ thuộc loại thứ hai. Cả hai loại quan hệ có thể coi như các công cụ thúc đẩy sáng tạo, giảm những bất trắc của quá trình đổi mới.

     Thứ ba, sự gần gũi về mặt thể chế, cả ở góc phi chính thức như các chuẩn mực xã hội và góc độ chính thức như quy định của chính quyền địa phương, tạo ra các "vùng học tập" (learning regions).

     Đó là do ở những nơi có sự gần gũi về mặt thể chế - tập hợp các chuẩn mực, quy tắc, luật lệ chi phối hành vi cá nhân và tổ chức - quá trình đổi mới diễn ra nhanh hơn và mang lại khả năng cạnh tranh cao hơn cho hệ thống. Kết quả là quá trình đổi mới được địa phương hóa một cách mạnh mẽ như là kết quả củ sự đa dạng truyền thống, chuẩn mực, thói quen, thông lệ xã hội và văn hóa.

     (Dẫn theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, trích từ báo cáo tổng hợp đề tài "Các giá trị phát triển cơ bản của vùng Tây Nguyên và xác định các quan điểm, định hướng, giải pháp phát triển bền vững Tây Nguyên")

     

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Lý thuyết "trung tâm và ngoại vi" trong nghiên cứu không gian văn hóa - Tác giả: GS.TS. Ngô Đức Thịnh

- Các trường phái lý thuyết chính trong nhân học - Tác giả: Tùng Nguyễn

- Các lý thuyết về chính trị thế giới - Tác giả: Charles W. Kegley, JR. & Gregory A. Raymond - Biên dịch: Lê Thùy Trang - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Cách tiếp cận hệ thống và các lý thuyết, biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh | Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Như Thanh

- Tiếp cận lý thuyết về hệ giá trị - Tổng hợp Th/s Trần Minh Hoàng

- Lý thuyết về thực thể tôn giáo - Dẫn theo đề tài TN3/X6 "Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên"

- Lý thuyết về thể chế và thể chế phát triển vùng - Dẫn theo PGS.TS Hà Huy Thành

- Lý luận tự quản xã hội chủ nghĩa của Nam Tư - Tổng hợp Ths. Trần Minh Hoàng