Lý luận tự quản xã hội chủ nghĩa của Nam Tư - Tổng hợp Ths. Trần Minh Hoàng

24/01/2016 16:19

LÝ LUẬN TỰ QUẢN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NAM TƯ



Từ giữa năm 1949 đến năm 1950, Đảng Cộng sản Nam Tư đã tiến hành học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác trên quy mô lớn và chông lại mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung cao độ kiểu Liên Xô, đưa ra lý luận tự quản xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa.

Lý luận tự quản xã hội chủ nghĩa của Nam Tư bao gồm:

  1. Lý luận kinh tế tự quản xã hội chủ nghĩa.

Lý luận kinh tế tự quản xã hội chủ nghĩa bao gồm:

Lý luận về chế độ sở hữu xã hội – lấy chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất làm nền tảng lý luận.

Lý luận về tự quản và lao động liên hợp: Trên cơ sở sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất sẽ khắc phục những hạn chế của sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân tư bản và người lao động thực sự làm chủ quá trình sản xuất. Hội đồng công nhân thiết lập ở các nhà máy, xí nghiệp, đơn vị sản xuất kiểm soát việc sản xuất và phần lớn lợi nhuận được phân phối trở lại cho bản thân công nhân (thay vì nhà nước hoặc chủ sở hữu/cổ đông).

Lý luận kế hoạch và thị trường xã hội chủ nghĩa: Công nhận quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên không phủ nhận kế hoạch và cho rằng kế hoạch chỉ đạo thị trường.

Lý luận về tái sản xuất mở rộng: Trên cơ sở sở hữu xã hội nên người lao động có quyền sử dụng thặng dư cho tài sản xuất xã hội mở rộng. Nhà nước không phải là chủ thể của tái sản xuất mở rộng mà chính người lao động là chủ thể của tái sản xuất mở rộng.

  1. Lý luận chính trị tự quản xã hội chủ nghĩa.

Lý luận chính trị tự quản xã hội chủ nghĩa bao gồm:

Lý luận về nhà nước và chuyên chính vô sản: Lý luận này cho rằng thể chế chính trị tập trung cao độ kiểu Liên Xô phù hợp với điều kiện chiến tranh và phục hồi hậu quả chiến tranh. Trong điều kiện hòa bình cần phân cấp và tự quản mới phát triển được kinh tế. Do vậy, chuyên chính vô sản được thay bằng tự quản nhân dân. Quản lý kinh tế được giao cho các nước cộng hòa hợp thành, các cơ quan chính phủ ở Beograd trở thành các hội đồng phối hợp hợp tác.  Các Bộ trưởng gọi là Chủ tịch Hội đồng theo từng lĩnh vực. Từ năm 1971, Ban lãnh đạo của Ti-tô bắt đầu chủ trương một phong trào nhằm tăng quyền cho các nước Cộng hòa liên bang thành viên, chính nó cũng bắt đầu châm ngòi cho chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa ly khai. Theo quan niệm của Liên đoàn Những người cộng sản Nam Tư, đây là cách thức để làm cho nhà nước “tiêu vong”.

Lý luận về đảng và các tổ chức chính trị xã hội cho rằng thời kỳ đầu giành chín quyền, Đảng phải nắm chính quyền. Trong thời kỳ hòa bình, Đảng không nên hòa làm một với bộ máy quản lý nhà nước. Đảng Cộng sản Nam Tư đổi thành Liên đoàn Những người Cộng sản Nam Tư. Liên Đoàn Những người Cộng sản Nam tư là liên hợp 6 Đảng cộng sản thuộc các nước thành viên trong Liên bang. Mục tiêu của Liên đoàn Những người Cộng sản Nam tư là xây dựng chủ nghĩa cộng sản Nam Tư là xây dựng chủ nghĩa nhân văn và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đảng không có đặc quyền, đặc lợi, liên minh với tất cả các tổ chức chính trị – xã hội vì muc tiêu chủ nghĩa cộng sản.  Luật cơ bản năm 1953 nhấn mạnh quyền tự do của “các đoàn thể tự do và người dân lao động” và “tự do cá nhân và quyền con người”.

 Lý luận về thể chế chính trị dân chủ tự quản với yêu cầu giao quyền quản lý xã hội cho những người trực tiếp sản xuất ra của cải. Trên cơ sở đó thành lập Hội đồng Công nhân; thực hiện mở rộng dân chủ kết hợp với tăng cường kỷ cương.

  1. Lý luận về quan hệ dân tộc:

 Chống dân tộc hẹp hòi; hạn chế quyền lực nhà nước Trung ương; tăng cường chế độ tự trị xã hội chủ nghĩa. Để hiện thực hóa những lý luận này, Nam Tư đã nhiều lần sửa đổi hiến pháp và thay đổi chế độ liên bang thành “chế độ liên bang tự quản”, tăng cường chế độ tự quản, giàm mạnh quyền của liên bang. Chức năng của liên bang là chăm lo cho quyền lợi chung của dân tộc Nam Tư, thực hiện chức năng ngoại giao, quốc phòng, kinh tế đối ngoại. Chính điều này đã làm cho khuynh hướng địa phương, dân tộc phân lập và là một nguyên nhân làm tan rã Liên bang Nam Tư sau này.

  1. Lý luận về không liên kết và phòng ngự toàn dân:

Từ chối tham gia hệ thống quân sự Warszawa và NATO (khi bị J. Stalin khai trừ khỏi hệ thống xã hội chủ nghĩa và được phương Tây mời chào). Phản đối việc phân chia các nước theo khối quân sự, theo ý thức hệ; đề xuất sáng lập Phong trào không liên kết. Sau khi mất nguồn viện trợ từ Liên Xô, Nam Tư nhận viện trợ của phương Tây nhưng vẫn giữ tính chất không liên kết. Đồng thời, chủ trương phòng ngự toàn dân.

 

(Người tổng hợp: Ths Trần Minh Hoàng)



Share Post




Một số bài viết khác

- Lý thuyết "trung tâm và ngoại vi" trong nghiên cứu không gian văn hóa - Tác giả: GS.TS. Ngô Đức Thịnh

- Các trường phái lý thuyết chính trong nhân học - Tác giả: Tùng Nguyễn

- Các lý thuyết về chính trị thế giới - Tác giả: Charles W. Kegley, JR. & Gregory A. Raymond - Biên dịch: Lê Thùy Trang - Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

- Cách tiếp cận hệ thống và các lý thuyết, biên dịch: Nguyễn Việt Vân Anh | Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Như Thanh

- Tiếp cận lý thuyết về hệ giá trị - Tổng hợp Th/s Trần Minh Hoàng

- Lý thuyết về thực thể tôn giáo - Dẫn theo đề tài TN3/X6 "Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên"

- Lý thuyết về thể chế và thể chế phát triển vùng - Dẫn theo PGS.TS Hà Huy Thành

- Lý thuyết về chức năng vùng - Dẫn theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng