Một số vấn đề rút ra qua tổng kết lý luận và thực tiễn ở Hà Tĩnh - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn

16/05/2016 10:53

MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA QUA TỔNG KẾT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở HÀ TĨNH

PGS.TS. Đoàn Minh Huấn

Học viện Chính trị Khu vực I


     Trong những năm gần đây Hà Tĩnh đã có những chuyển biến to lớn về kinh tế - xã hội, đặc biệt là đột phá trong cấu trúc lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tổ chức lại lãnh thổ và dân cư, cải cách thể chế lãnh đạo và quản lý, phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao mức sống và chất lượng sống cho nhân dân. Tuy nhiên, trong chiến lược phát triển chung một số mặt còn hạn chế, chưa xây dựng được mô hình kinh tế thị trường cũng như chưa đánh giá nền kinh tế theo chiều sâu. Bài viết này nhằm phân tích, đánh giá việc cải cách thể chế kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và xác lập các chủ thể kinh tế thị trường hiện đại của Hà Tĩnh từ đó đưa ra các giải pháp phát triển mô hình này.


     1. Cải cách thể chế kinh tế tạo lập môi trường bình đẳng giữa các doanh nghiệp.


     Cải cách thể chế kinh tế là một khái niệm kinh tế chính trị học liên quan đến sự vận hành của bộ máy nhà nước đối với nền kinh tế. Cải cách thể chế liên tục sẽ tạo môi trường bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân sẽ phát triển; thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp và đầu tư mạnh mẽ vào nông nghiệp theo “hình thức tập trung quy mô lớn” (sản xuất công nghiệp nông nghiệp) kết hợp với “hình thức vừa tập trung vừa phân tán”; kích thích năng lực sản xuất hàng hóa cho kinh tế hộ; khuyến khích và hỗ trợ cho phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, nòng cốt là hợp tác xã theo tinh thần tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi.


     Cải cách thể chế nhằm huy động, thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, đất đai, tài nguyên khoáng sản, con người. Tài chính công đầu tư vào đúng chỗ, đúng lúc, hiệu quả, tuân theo thông lệ quốc tế. Trong đó, đáng chú ý các mở rộng áp dụng các hình thức hợp tác công tư, lãnh đạo công quản trị tư để thu hút đầu tư, năng động hóa trong quản lý hạ tầng kỹ thuật, các dịch vụ công cơ bản, thiết yếu, đặc biệt coi trọng các mô hình “đầu tư tư, sử dụng công”, “đầu tư công, sử dụng tư”, “chi phí công, cung ứng tư, kiểm soát công”…


     Cải cách thể chế còn có mục tiêu tự thân nhằm làm cho chính quyền chuyển từ chức năng quản trị sang cung ứng dịch vụ công và phục vụ, giảm thiểu quan liêu.


     Như vậy, cải cách thể chế nhằm cơ cấu lại chính quyền từ tỉnh xuống xã từ quản trị sang phục vụ, xác lập các chủ thể của kinh tế thị trường theo hướng hiện đại, tối ưu hóa trong khai thác và sử dụng các nguồn lực, tăng cường thu hút đầu tư.


     2. Xác lập các chủ thể kinh tế thị trường hiện đại


     Nền kinh tế thị trường là một bước tiến của xã hội loài người trong tổ chức kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều ưu thế, song cũng không ít những khuyết tật, tất yếu phải có sự quản lý của Nhà nước. Theo Samuelson “Bàn tay vô hình” đôi khi cũng đưa nền kinh tế đến những sai lầm, đó là những khuyết tật của kinh tế thị trường, những khuyết tật này chỉ được hạn chế khi có vai trò của Nhà nước. Tuy nhiên trong quá trình phát triển của kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước không phải lúc nào cũng được đặt ra như nhau.


     Như vậy, việc xác lập chủ thể của kinh tế thị trường hiện đại luôn cần đến “bà đỡ” của nhà nước, kể cả hỗ trợ tài chính một cách khéo léo cho các khu vực dễ bị tổn thương hoặc vì mục tiêu xã hội, nhưng phương thức hỗ trợ như thế nào, để không vi phạm các nguyên tắc của thị trường là vấn đề cần tính đến. Vì thế, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước trong quan hệ với thị trường là vấn đề lớn ở nước ta hiện nay, trong đó có Hà Tĩnh. Có thể nhận diện các chủ thể của kinh tế thị trường ở địa phương này được xác lập trong những năm qua như sau:


     Thứ nhất, về kinh tế nhà nước.


     Doanh nghiệp nhà nước ở Hà Tĩnh thời gian qua đã có vai trò nhất định trong thúc đẩy quá trình xác lập chủ thể kinh tế thị trường theo hướng hiện đại ở nông thôn, tạo ra một mạng lưới thị trường sơ cấp kết nối với thị trường thứ cấp để giúp mở rộng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, giúp các hộ gia đình sản xuất theo tiêu chuẩn chung (giống, thức ăn, quy trình sản xuất…), giúp một số nông sản có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị, giúp người dân nông thôn giảm bớt bấp bênh, rủi ro của thị trường, giúp chuyển biến nhận thức về phát triển kinh tế hàng hóa ở nông thôn.


     Tuy nhiên, tính không bền vững vẫn tiềm ẩn khi doanh nghiệp nhà nước rất được “quan tâm” như: hỗ trợ tài chính công, các nguồn tín dụng, đất đai… làm cho nền kinh tế không tuân theo quy luật thị trường, trái với xu hướng xác lập thị trường hiện đại chưa có bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.


     Trong ngắn hạn, các hỗ trợ này rất cần thiết cho thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội, nhưng về lâu dài cần phải cấu trúc lại doanh nghiệp, mà cổ phần hóa là chủ trương phải nhất quán. Bài học nhiều doanh nghiệp đã cho thấy, khi nhà nước còn hỗ trợ thì doanh nghiệp “sống”, khi nhà nước kết thúc hỗ trợ thì doanh nghiệp rơi vào khó khăn, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Các hỗ trợ này thường theo chương trình, dự án mục tiêu của địa phương mà không phải là hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp cụ thể. Bất luận doanh nghiệp công hay tư nhân đều có quyền bình đẳng nhận hỗ trợ này khi ban hành một chương trình mục tiêu. Kết thúc chương trình thì không còn nhận được hỗ trợ. Đó là chưa kể, khi tham gia vào WTO, TPP thì các hình thức bảo hộ, can thiệp vào thị trường thường phải tiến hành gián tiếp, ít có điều kiện trực tiếp.


     Thứ hai, về kinh tế tập thể.


     Đây là điểm có nhiều cố gắng của tỉnh Hà Tĩnh nhưng nhìn chung vẫn thiên về chuyển biến số lượng, còn chất lượng tổ chức, quản trị, hoạt động của hợp tác xã phải có đánh giá toàn diện và sâu sắc hơn. Bởi vì, hợp tác xã chỉ hình thành thật sự và hoạt động hiệu quả khi gắn liền với nhu cầu sản xuất hàng hóa lớn và thúc đẩy quan hệ thị trường của các hộ gia đình, của các nông trại, gia trại. Nói cách khác, khi nhu cầu sản xuất hàng hóa tăng lên (quy mô sản phẩm lớn, khả năng thâm nhập thị trường rộng), nếu từng hộ tiểu nông riêng lẻ tham gia vào thị trường thứ cấp khó khăn, thường gặp rủi ro, bất bênh, vì vậy cần đến một thiết chế trung gian là hợp tác xã để giúp họ liên kết lại để lo thị trường đầu ra, lo dịch vụ đầu vào, trên cơ sở đó thì hợp tác xã hình thành một cách tự nhiên, tự nguyện, tự thân, tự giác. Hợp tác xã là hình thức để đạt các mục tiêu sau đây của hộ gia đình: (i) tìm thị trường đầu ra ổn định, đáp ứng các đòi hỏi của thị trường (quy mô, chủng loại, chất lượng…); (ii) lo các yếu tố đầu vào cho sản xuất ổn định và có chất lượng (giống, kỹ thuật, phân bón…); (iii) cung cấp một số dịch vụ chung mang tính tập trung mà các hộ gia đình riêng lẻ thực hiện không hiệu quả và hạn chế về chất lượng; (iv) giảm bớt áp lực của doanh nghiệp, của thị trường trong đàm phán, ký kết với tư cách là một pháp nhân, mà nếu từng hộ riêng lẻ đàm phán thì dễ bị xé lẻ, không có sức chống đỡ, gây thiệt hại cho người nông dân; (v) có thể thực hiện các phúc lợi xã hội và an sinh xã hội cho nông dân khi phát triển lên trình độ cao, nhất là bảo hiểm cho nông dân. Vì vậy, muốn có hợp tác xã thực chất thì phải tăng cường năng lực sản xuất hàng hóa, năng lực kinh tế thị trường cho các hộ gia đình thông qua các chính sách tích tụ ruộng đất, chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách đào tạo nông dân, chính sách liên kết, chính sách thương mại và thị trường, chính sách khoa học và công nghệ…


     Thứ ba, về kinh tế tư nhân.


     Hộ gia đình là một chủ thể quan trọng của kinh tế thị trường ở nông thôn nhưng nếu là hộ tiểu nông như lâu nay thì chỉ có thể duy trì nền sản xuất tiểu nông, chỉ có thể trao đổi hàng hóa giản đơn mà không thể tiến lên kinh tế thị trường thật sự.


     Kết quả khảo sát một số trang trại, gia trại cho thấy đây là xu hướng tất yếu để có chủ thể kinh tế thị trường theo hướng hiện đại ở nông thôn, nhưng cần tăng cường khả năng liên kết thành hợp tác xã, thành liên minh hoặc phát triển thành doanh nghiệp thì mới có khả năng tham gia vào thị trường thứ cấp. Mặt khác, mô hình quản trị của các gia trại, nông trại còn rất đơn sơ, cần phải có đào tạo, bồi dưỡng, nhất là công nghệ, phương thức quản trị kiểu doanh nghiệp, tổ chức lao động đảm bảo cho quyền của người làm thuê…


     Dù số mô hình gia trại, nông trại có tăng lên, mở rộng quy mô nhưng chiếm số lượng lớn vẫn là số hộ gia đình sản xuất tiểu nông, do quy mô ruộng đất theo đầu người thấp, phương thức sản xuất hạn chế, nhận thức về kinh tế thị trường còn phiến diện, thiếu đào tạo và hướng dẫn về sản xuất trong nền kinh tế thị trường, chưa có hợp tác xã đủ lớn mạnh làm giá đỡ, thiếu can dự mạnh mẽ của doanh nghiệp đủ tiềm lực và ý thức trách nhiệm xã hội vào hoạt động sản xuất và thúc đẩy phát triển thị trường nông thôn.


     Thứ tư, về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.


     Đối với loại hình kinh tế này thời gian qua vận hành khá đầy đủ theo quy luật của thị trường, góp phần tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên cũng nẩy sinh không ít hạn chế, tác động tiêu cực như: chuyển giá, trốn thuế, hủy hoại môi trường, sử dụng lao động phi chính thức không đảm bảo quyền cho người lao động, hạn chế thành lập tổ chức công đoàn…


     Vậy, vấn đề đặt ra là đổi mới quản lý của chính quyền như thế nào? Để phát huy thế mạnh vốn có của nó và hạn chế tối thiểu những khuyết tật của thị trường.


     3. Đổi mới mô hình tăng trưởng


     Đổi mới mô hình tăng trưởng nó có ý nghĩa rất quan trọng là giảm dần tăng trưởng nhờ đầu tư vốn, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang tăng trưởng nhờ gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ, dựa vào nguồn nhân lực chất lượng cao.


     Thứ nhất, về công nghiệp nông nghiệp.


     Đầu tư cho khâu giống, công nghệ chế biến, công nghệ bảo quản, bảo hộp sản phẩm (xuất xứ, thương hiệu, nhãn mác…) với chất lượng cao và được tiêu chuẩn hóa gắn với vai trò đầu tàu của các trung tâm khoa học - công nghệ trong doanh nghiệp hoặc của tỉnh.


     Thứ hai, về công nghiệp năng lượng.


     Hiện nay, năng lượng thay thế đang trở thành xu hướng của thế giới, nhất là năng lượng thân thiện môi trường, năng lượng sạch (địa nhiệt, năng lượng sinh khối, năng lượng sóng biển, năng lượng gió, năng lượng pin thông minh, năng lượng mặt trời…). Trong khi đó, tại Vũng Áng tập trung một số lượng lớn nhà máy nhiệt điện, cần cân nhắc cụ thể hơn về quy hoạch phát triển ngành năng lượng điện thay thế khi các nhà máy này khấu hao xong và than đá vơi dần (kể cả nguồn nhập khẩu), thậm chí nếu sử dụng sẽ dẫn tới giá điện đắt đỏ hơn so với năng lượng thay thế vừa sạch, vừa giá rẻ hơn, có sức cạnh tranh tốt hơn trong vài thập niên tới.


     Thứ ba, về công nghiệp vật liệu mới.


     Vật liệu thông minh, cần lựa chọn đề thu hút đầu tư phát triển ở khu vực phù hợp, đặc biệt trong cụm Vũng Áng.


     Thứ tư, về công nghệ thông tin.


     Có vai trò dẫn dắt trong mọi lĩnh vực. Cần có chiến lược phát triển ứng dụng công nghệ thông tin gắn với đổi mới quản trị tất cả các lĩnh vực của đời sống từ quản lý của chính quyền, quản lý giáo dục, quản lý tài chính, quy hoạch - xây dựng, quản lý doanh nghiệp.… đến các mặt khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.


     Thứ năm, về công nghiệp y tế.


     Gồm công nghiệp dược và công nghệ cao, trong đó các ngành thực phẩm chức năng cho sức khỏe và sắc đẹp ngày càng phát triển, được lựa chọn để định hướng cho một số địa phương có có nguồn dược liệu đảm bảo chất lượng nhờ thảm thực vật phong phú, giống giá trị, thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp... Một số sản phẩm của Hà Tĩnh như thảo dược, nhung hươu cần có chiến lược cho phát triển theo hướng này, đáp ứng một phân khúc thị trường theo tâm lý, hành vi tiêu dùng.


     Thứ sáu, về công nghiệp văn hóa (điện ảnh, truyền hình, giải trí, game online…): Hà Tĩnh không có điều kiện phát triển nhưng cần khai thác vai trò của công nghiệp văn hóa trong quảng cáo hình ảnh địa phương và sản phẩm chủ lực.


     Bên cạnh vai trò của khoa học công nghệ, cần đầu tư nhiều hơn cho khoa học quản lý, khoa học chính sách công… để đảm bảo khoa học hóa các quyết định lãnh đạo, quản lý.


     4. Giải pháp cách thể chế kinh tế đổi mới mô hình tăng trưởng


     Thứ nhất; Đổi mới cơ chế quản lý, xây dựng hệ thống chính trị và cơ quan tham mưu giúp việc


     Đổi mới cơ chế quản lý nhất là công tác hoạch định các chủ trương, chính sách từ chỗ là những chính sách kiểu nội chính sang chính sách công, đảm bảo quy trình khoa học của chính sách công, nhờ đó làm cho các chủ trương, chính sách giảm thiểu sai lầm, tăng hàm lượng khoa học, có khả năng chịu đựng được năng lực phản biện và giám sát xã hội.


     Thứ hai; Thành lập Viện Nghiên cứu chính sách và phát triển Hà Tĩnh


     Nhằm tập hợp lực lượng các chuyên gia, huy động nguồn lực đầu tư nghiên cứu các vấn đề địa phương, tư vấn cho Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh các vấn đề quản lý và phát triển.


     Thứ ba; Tiến hành thi các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp


     Phải coi đây là cơ hội để nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý trước thách thức của hội nhập.


     Thứ tư; Đào tạo nguồn nhân lực


     Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm từ nhân lực lãnh đạo quản lý, nhân lực khoa học - công nghệ, nhân lực phổ thông.


     Đội ngũ nhân lực lãnh đạo quản lý; phải được hiện đại hóa trước hết, bao gồm cả cập nhật lý thuyết và tri thức mới của thời kỳ hội nhập, có kỹ năng lãnh đạo công và quản trị công, có năng lực giải quyết tốt các vấn đề mang tính địa phương. Vì vậy, phải coi trọng bồi dưỡng cập nhật kiến thức và kỹ năng, được tiến hành một cách liên tục, định kỳ theo chế độ học tập suốt đời. Xây dựng chương trình bồi dưỡng thiết thực cho từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý từ tỉnh đến xã, có cả đào tạo trong nước và đào tạo nước ngoài.


     Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ; cần coi trọng đặc biệt, nhất là gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, với nghiên cứu để ứng dụng vào quản trị doanh nghiệp, quản trị hợp tác xã, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm chủ lực, của doanh nghiệp và địa phương.


     Nguồn nhân lực phổ thông; muốn nâng cao chất lượng phải đổi mới mô hình đào tạo theo hướng đào tạo cạnh doanh nghiệp, đào tạo theo đề án nghề nghiệp để trở thành thợ lành nghề, đào tạo thành nhà nông chuyên nghiệp có khả năng thích ứng với thị trường, có kỹ năng và tác phong làm việc phù hợp môi trường sản xuất công nghiệp và hội nhập.


     Đào tạo lao động cho sản xuất công nghiệp; Không nhất thiết đầu tư lập hệ thống trường lớp (tốn kém, mất thời gian dài…) nếu Hà Tĩnh không có thế mạnh, mà mạnh dạn đầu tư kinh phí gửi cho đi học ở các trường trong các doanh nghiệp có công nghệ cao, kỹ năng thành thục, có điều kiện thực tập trong đào tạo.


     Đào tạo nhà nông chuyên nghiệp, cần phân khai các modul kiến thức đào tạo: Một là, tạo kiến thức “phông” làm nền (hiểu kinh tế thị trường, hiểu văn hóa, hiểu kinh doanh… ) thông qua hình thức đào tạo cơ bản. Hai là, tạo lập ý thức sản xuất theo nhà nông chuyên nghiệp, gắn với kinh tế thị trường, tổ chức sản xuất hiện đại: phải được đào tạo cơ bản gắn với thực hành cụ thể. Điều này mới giúp cho người học sau khi tốt nghiệp có khả năng bước vào sản xuất hàng hóa, tổ chức sản xuất kiểu doanh nghiệp trên nền tảng kinh tế hộ gia đình có sẵn. Trong sản xuất nông nghiệp cần chú ý kết hợp cả tri thức khoa học công nghệ và tri thức bản địa được lưu giữ, trao truyền thực hành và trí nhớ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ba là, tạo lập một nghề cụ thể trong sản xuất gắn với xác định nguồn lực đất đai, tài chính, khoa học - công nghệ, lao động, liên kết doanh nghiệp: Mỗi người học phải có một Đề án cho nghề nghiệp cuộc đời của mình. Tính khả thi của nó chính là cơ sở cho các hỗ trợ tài chính, đất đai, khoa học - công nghệ… mà chính quyền tỉnh sẽ ban hành, đầu tư, hỗ trợ và giám sát.


     TÀI LIỆU THAM KHẢO


     1. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2015) Báo cáo đánh giá kết quả kinh tế xã hội 5 năm giai đoạn 2011 - 2015 và nhiệm vụ giải pháp đẩy mạnh thực hiện Chương trình MTQG và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 của Hà Tĩnh, tháng 5.


     2. Dự thảo báo cáo chính trị trình đại hội đảng bộ Hà Tĩnh lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2016 – 2020.


 


 






Share Post




Một số bài viết khác

- Đánh giá mô hình hợp tác xã kiểu mới của Hà Tĩnh - Nhìn từ nông nghiệp Israel - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Đánh giá kinh tế nông nghiệp Hà Tĩnh - Nhìn từ lý thuyết lợi thế so sánh - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Hà Tĩnh - Nhìn từ mô hình Porter - Tác giả: Hoàng Đình Minh - Ngô Quang Trung