Tiền đề kinh tế vĩ mô của việc thực hiện mô hình tăng trưởng mới - TS. S.Drobyshevsky, TS. S.Sinelnikov-Murylev - Biên dịch: Phí Văn Hội

09/10/2015 09:27

TIỀN ĐỀ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆC THỰC HIỆN MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG MỚI

                                                                        TS. S.Drobyshevsky, TS. S.Sinelnikov-Murylev

Theo: Những vấn đề kinh tế (Nga), số 9/2012.

Biên dịch: Phí Văn Hội

     “Các nhà nghiên cứu kinh tế vĩ mô thường đi sâu nghiên cứu sự vận động và những mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Gần như mỗi hiện tượng kinh tế vĩ mô lại được mô tả bằng một mô hình riêng với giả thiết riêng. Công trình nghiên cứu sau của hai học giả Nga đã cho chúng ta thông tin cần thiết về mô hình tăng trưởng mới của nền kinh tế Nga hiện tại và trong tương lai.”

     Hiện nay, kinh tế Nga và kinh tế thế giới đang trải qua thời kỳ không đơn  giản. Giai  đoạn khủng hoảng trầm trọng 2007-2009 đã lùi lại phía sau, song kinh tế thế giới vẫn còn hàng loạt bất cân bằng nền tảng. Cùng với đó, các chiến lược  nhằm thoát ra khỏi khủng hoảng của các nước phát triển đã dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng mới trong việc không có khả năng cân bằng ngân sách nhà nước, ổn định tình hình trong lĩnh vực nợ nhà nước và khởi động các cơ chế kích thích tăng trưởng kinh tế. Rất có thể, sự tăng trưởng không vững chắc của các nền kinh tế  phát triển là nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển hàng đầu chậm lại (Năm 2012, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ giảm).

     Ngay trước khủng hoảng 2007-2009, Nga có các chỉ số kinh tế vĩ mô khá khả quan. giai đoạn 2000-2008, tốc độ tăng GDP thực tế bình quân hàng năm là 7%, thặng dư ngân sách liên bang đạt 7% GDP, nợ nhà nước thấp hơn 15% GDP, các khu vực ngân hàng và tài chính phát triển nhanh. Đồng thời, trong suốt thập niên đầu thế kỷ XXI, những vấn đề trong nước được ngụy trang bằng thu nhập cao cũng tăng lên như:

     - Sự phụ thuộc ngày càng nhiều của nền kinh tế vào giá dầu mỏ và các hàng hóa nguyên liệu xuất khẩu khác. Chúng tôi xin đặc biệt lưu ý rằng, sự phụ thuộc đó tăng lên không chỉ theo kênh doanh thu ngoại hối từ xuất khẩu, mà còn theo kênh ảnh hưởng đến những mong đợi của các chủ thể kinh tế và tâm trạng tiêu dùng ở Nga.

     - Tỷ giá thực của đồng rúp được củng cố nhanh và chi phí sản xuất tăng lên. Việc không có cạnh tranh ở thị trường lao động dẫn đến tiền lương tăng nhanh hơn (trong giai đoạn 2004-2007, tốc độ tăng thu nhập thực tế trung bình năm của người dân đạt 11,9%).

     - Mô hình tăng trưởng kinh tế của Nga, cũng như của đa số các nước trong giai đoạn đó, dựa vào việc mở rộng cầu tiêu dùng và sự bùng nổ cho vay tiêu dùng trong khi mức tiết kiệm trong nền kinh tế rất thấp. Sự thiếu hụt các khoản tiền tiết kiệm cá nhân trong nước buộc các công ty và ngân hàng Nga phải thu hút tín dụng từ nước ngoài. Kết quả là nợ nước ngoài của khu vực tư nhân rất lớn: Đến mùa Thu năm 2008, số nợ đó đã xấp xỉ 40% GDP.

     -  Việc nâng cao một cách vững chắc phúc lợi của dân cư và các chỉ số kinh tế vĩ mô khả quan không tạo ra những kích thích để tiến hành các cải cách thể chế cần thiết; chất lượng của bầu không khí kinh doanh và đầu tư giảm xuống.

     Trong tiến trình khủng hoảng 2008-2009, những yếu tố trên làm tăng ảnh hưởng tiêu cực của những cú sốc từ bên ngoài, và  nền kinh tế Nga là một trong những nền kinh tế suy giảm mạnh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, “các đệm an toàn” được tạo ra trước khủng hoảng ở cả lĩnh vực ngân sách (quỹ dự phòng, các thể chế phát  triển) lẫn lĩnh vực tiền tệ (dự trữ ngoại tệ của ngân hàng Nga) đã cho phép Nga thực hiện chính sách chống khủng hoảng tương đối hiệu quả, tránh được những chấn động xã hội nghiêm trọng. Đến cuối năm 2011, phần lớn các chỉ số của nền kinh tế Nga đã đạt được mức cao nhất trước khủng hoảng.

     Tuy nhiên, triển vọng phát triển của nền kinh tế Nga không rõ ràng. Kinh tế thế giới đang khủng hoảng hệ thống sâu sắc và chưa rõ khi nào sẽ thoát khỏi  khủng hoảng. Tính không xác đó làm tăng sự thay đổi thất thường của giá dầu mỏ và các hàng hóa nguyên liệu xuất khẩu khác của Nga. Ngoài những vấn đề trong nước nêu trên - những vấn đề cấp bách đối với sự phát triển của nền kinh tế Nga hiện nay - trong những năm tới, Nga có thể sẽ phải đối mặt với các xu hướng tiêu cực sau:

     - Sự xấu đi của tình hình dân số, thể hiện ở việc giảm tỷ lệ dân số có khả năng lao động trong tổng dân số.

     - Trong thời kỳ khủng hoảng, vị thế kinh tế của các công ty và ngân hàng nhà nước giảm xuống (ngay cả theo thước đo của Nga) do hoạt động kém hiệu quả.

     - Không tham gia quy mô rộng (ngang với các nước đang phát triển khác) vào thị trường vốn thế giới.

     - Sức ép của các nghĩa vụ ngân sách được đưa ra trong tiến trình khủng hoảng tăng lên.

     - Sự xấu đi của điều kiện khai thác nhiên liệu và các khoáng sản có ích khác.

     Về  nguyên tắc, không thể khắc phục được tất cả những vấn đề nêu trên trong khuôn khổ mô hình tăng trưởng kinh tế đã hình thành từ đầu những năm 2000. Trong “Chiến lược 2020” - chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Liên bang Nga đến năm 2020 do cộng đồng chuyên gia soạn thảo năm 2011 theo sáng kiến của Chính phủ Liên bang Nga - có mô hình tăng trưởng kinh tế mới. Mô hình này dựa vào đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thể chế quy mô lớn và “chính sách xã hội mới” (hướng vào nâng cao trình độ phát triển của tư bản con người). Bài viết không thảo luận mô hình tăng trưởng kinh tế mới nói chung, mà chỉ tập trung vào khía cạnh hình thành các điều kiện kinh tế vĩ mô để thực hiện mô hình đó.

     Các tiêu chí ổn định kinh tế vĩ mô: Kinh nghiệm thế giới và đặc thù của Nga.

     Về thực chất, các chính sách của nhà nước hướng vào hình thành các điều kiện kinh tế vĩ mô đảm bảo cho nền kinh tế quốc gia phát triển ổn định và vững chắc chủ yếu bằng chính sách ngân sách và chính sách tài chính - tiền tệ. Ở đa số các nước, những đòi hỏi ổn định kinh tế vĩ mô trong lĩnh vực chính sách ngân sách được quy lại là áp dụng quy tắc quyết định việc đưa ra các quyết định ngân sách, còn trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ là xác lập các chỉ báo có mục tiêu trong chính sách của ngân hàng trung ương.

     Ở các nước kinh tế phát triển, quy tắc ngân sách thường quy định mức thâm hụt ngân sách nhà nước tối đa và/hoặc mức nợ nhà nước tối đa. Theo các tiêu chí Maas-tricht được áp dụng ở các nước thành viên khu vực đồng euro, cả mức thâm hụt ngân sách lẫn mức nợ nhà nước tối đa đều được giới hạn. Chỉ số nợ nhà nước được giới hạn ở cấp độ luật pháp ở Mỹ và ở Tây Ban Nha (từ Mùa thu năm 2011, trong Hiến pháp nước này). Ở các nước xuất khẩu hàng hóa nguyên liệu, quy tắc ngân sách thường dựa vào sự phân phối lại giữa các giai đoạn của thu nhập từ xuất khẩu (thông qua cơ chế các quỹ bình ổn).

     Trong lĩnh vực chính sách tài chính - tiền tệ, các tiêu chí vững chắc thường bao gồm mức lạm phát, mức lãi suất và các yêu cầu đối với sự vận động của tỷ giá  trao đổi danh nghĩa của đồng nội tệ.

     Mặc dù hiện nay, ở khu vực đồng euro và hầu hết các nước Châu Âu sau khi gia nhập khu vực đồng euro, người ta đều xem nhẹ các tiêu chí Maastricht, song cần phải thừa nhận rằng, các tiêu chí Maastricht là những quy định đầy đủ và được xem xét kỹ nhất. Theo chúng tôi, các tiêu chí đó thể hiện đầy đủ những đòi hỏi cần thiết đối với chính sách kinh tế của các nước ứng viên và các thành viên của khu vực đồng euro, và chính việc vi phạm chúng (trong việc không có các công cụ trừng phạt hữu hiệu đối với các nước vi phạm) đã dẫn đến khủng hoảng sâu sắc ở Châu Âu.

     Như đã đề cập, trong chính sách ngân sách, các tiêu chí Maastricht quy định hững đòi hỏi đối với mức thâm hụt ngân sách nhà nước (không nhiều hơn 3% GDP) và mức nợ nhà nước (không nhiều hơn 60% GDP). Trong lĩnh vực chính sách tài chính -  tiền tệ, các tiêu chí đó không chứa đựng các tham số chính xác mức lạm phát, mức lãi suất. Mức lạm phát ở một nước không được vượt quá 1,5 điểm % mức trung bình của ba nước thành viên Liên minh Tiền tệ Châu Âu đạt  được các kết quả tốt nhất trong duy trì ổn định giá. Mức lãi suất dài hạn của công trái một nước với thời hạn 10 năm không được vượt quá 2 điểm % mức trung bình của ba nước thành viên Liên minh Tiền tệ châu Âu đạt  được các kết quả tốt nhất trong duy trì ổn định giá. Ngoài ra, đối với các nước ứng viên của khu vực đồng euro, yêu cầu đối với sự vận động của tỷ giá ngoại hối danh nghĩa được đặt ra là đảm bảo sự ổn định của tỷ giá trao đổi của đồng nội tệ đối với đồng euro (dao động ở mức ±15%).

     Khi xác định các tiêu chí tương tự của ổn định kinh tế vĩ mô đối với Nga cần phải chú ý đến các đặc thù của nền kinh tế Nga - định hướng nguyên liệu trong xuất khẩu và sự phụ thuộc cao của nền kinh tế, đặc biệt là của thu ngân sách, vào giá dầu mỏ thế giới. Cụ thể là mức thu ngân sách của các nước trong Liên minh Châu Âu tương đối ổn định (có tính đến những thay đổi trong các hệ thống thuế quốc gia), mặc dù có sự khác nhau giữa các nước. Giới hạn thâm hụt ngân sách ở mức 3% GDP tương đối phù hợp với phạm vi dao động của thu ngân sách ở các nước Châu Âu trong vài thập kỷ gần đây. Tiêu chí này có tính đến khả năng giảm thu ngân sách trong pha thấp của chu kỳ hoạt động kinh doanh, nhưng giới hạn (theo ý tưởng của những người soạn thảo) việc tăng chi ngân sách không xác đáng.

     Ở Nga, các dao động của thu ngân sách chủ yếu không gắn với chu kỳ hoạt động kinh doanh, mà với sự vận động của giá dầu mỏ trên thị trường thế giới. Vì vậy, mức thu ngân sách không thể coi là ổn định theo thời gian, mức dao động của nó có thể lên tới 5 - 7% GDP/năm. Hơn nữa, do những thay đổi của tình hình kinh tế đối ngoại và ảnh hưởng của chu kỳ hoạt động kinh doanh, những dao động của thu ngân sách có thể không trùng nhau về thời gian.

     Như vậy, đối với Nga, chỉ số mức thu ngân sách cơ sở là tiêu chí ngân sách quan trọng nhất để ổn định kinh tế vĩ mô (là cơ sở của quy tắc ngân sách). Nói cách khác, trong chừng mực nhất định, nó “được bảo hành” có tính đến các xu thế được hình thành trên thị trường nguyên liệu thế giới. Các tiếp cận đó khác đôi chút với quan điểm thu ngân sách cấu trúc và cục diện thị trường được sử dụng ở các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế). Ở đây, hợp phần cấu trúc của thu ngân sách thường được hiểu là mức thu ngân sách trung bình, còn hợp phần cục diện thị trường - phần hay thay đổi của thu ngân sách, phần dao động tùy thuộc vào pha của chu kỳ hoạt động kinh doanh.

     Trong tình huống đó, giới hạn mức thâm hụt ngân sách có tính chất thứ yếu và có thể được đặt ra để nhấn mạnh tính nghiêm ngặt của quy tắc ngân sách.  Chúng tôi cũng xin nói trước rằng, tính đến cấu trúc hình thành hệ thống ngân sách của Liên bang Nga theo cấp độ và vai trò gần như là “cấp cuối cùng” của ngân sách liên bang (ngân  sách “cấp cuối cùng”) có thể thu được hiệu quả nhất khi áp dụng quy tắc ngân sách vào chính ngân sách liên bang.

     Tiêu chí ngân sách thứ hai của ổn định kinh tế vĩ mô là giới hạn tối đa của nợ nhà nước.Trong điều kiện của Nga, việc đó cần phải tính đến không chỉ xu hướng nguyên liệu là chủ yếu của nền kinh tế, mà còn phải tính đến trình độ phát triển (chiều sâu) của khu vực tài chính, đến việc Nga thuộc nhóm nước có nền  kinh tế đang phát triển, đến sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.

     Hợp phần quan trọng thứ ba đối với quy tắc ngân sách của Nga là quy chế phân phối lại giữa các giai đoạn của thu nhập từ khai thác và xuất khẩu nguyên liệu đưa vào Quỹ nguyên liệu tự chủ (các quỹ). Cơ chế này đã hoạt động ở Nga trước khủng hoảng 2008-2009 và đã đảm bảo việc thu từ ngân sách và nền kinh tế các thu nhập dư thừa đưa vào Quỹ bình ổn (quỹ dự trữ và quỹ của các thế hệ tương lai) trong thời kỳ cục diện thị trường nhiên liệu thế giới cao; giảm thu ngân sách, cung cấp tài chính cho thâm hụt ngân sách khi giá dầu mỏ thế giới giảm.

     Về các yêu cầu của ổn định kinh tế vĩ mô đối với chính sách tài chính - tiền tệ, theo chúng tôi, về thực chất, chỉ số lạm phát là tiêu chí duy nhất. Cho đến thời gian gần đây, Nga vẫn là nước có chỉ số lạm phát cao so với các nước OECD và các nền kinh tế đang phát triển hàng đầu. Hai tiêu chí Maastricht khác trong lĩnh vực chính sách tài chính - tiền tệ - giới hạn mức lãi suất và những dao động của tỷ  giá danh nghĩa đồng nội tệ - là những tiêu chí đặc thù đối với các nước ứng viên gia nhập vào khu vực đồng euro và không hoàn toàn khả dụng đối với Nga.

     Quy tắc ngân sách mới

     Sự phụ thuộc của nền kinh tế Nga vào tình hình thị trường nguyên liệu thế giới gây khó khăn cho việc tiến hành chính sách chống khủng hoảng trong nước. Việc xây dựng quỹ nguyên  liệu, trích ra một phần thu nhập từ dầu mỏ và khí đốt  là những bước đi đầu tiên theo hướng chống lại những dao động chu kỳ trong nước và những dao động cục diện thị trường ngoài nước. Như kinh nghiệm trong các năm 2008-2009, quỹ nguyên liệu đã thực hiện vai trò của nó trong giảm thu ngân sách từ lợi nhuận và các nguồn thu ngân sách khác gián tiếp phụ thuộc vào cục  diện thị trường ngoài nước.

     Tuy nhiên, khi thu ngân sách từ chu kỳ hoạt động kinh doanh trong nước thì quỹ nguyên liệu có thể không đủ khả năng, và chính phủ buộc phải vay mượn quy mô lớn ở thị trường. Việc hình thành thị trường giấy tờ có giá của nhà nước (trước hết là trong nước) không chỉ theo phép xoa dịu những dao động của thu ngân sách cục diện thị trường (chu kỳ), mà còn tạo ra cho ngân sách trung ương khả năng thực hiện trên thực tế chính sách quản lý lãi suất thông qua hoạt động trên thị trường mở.

     Quy tắc ngân sách thứ nhất được áp dụng ở Nga vào tháng 12/2003 khi thành lập Quỹ bình ổn của Liên bang Nga. Quy tắc này có nhiệm vụ thể chế hóa sự tích tụ thặng dư ngân sách liên bang. Những thu nhập dư ra (so với giá cơ sở) từ khai thác và xuất khẩu dầu mỏ được đưa vào Quỹ bình ổn. Như vậy, khối lượng các khoản khấu trừ vào Quỹ bình ổn phụ thuộc vào mức cao hơn của giá dầu mỏ hiện hành so với giá cơ sở. Các phương tiện của quỹ chỉ được sử dụng để bù vào thâm hụt ngân sách liên bang khi giá dầu mỏ thấp hơn giá cơ sở. Tuy nhiên, khi số tiền của quỹ vượt 500 ngàn tỷ rúp thì số tiền vượt quá đó có thể được sử dụng vào những mục đích khác.

     Từ ngày 01/7/2008, Quỹ bình ổn của Liên bang Nga được chia làm hai phần: Quỹ dự trữ và Quỹ phúc lợi quốc gia. Quỹ dự trữ trên thực tế trở thành quỹ kế thừa Quỹ bình ổn. Quỹ dự trữ được hình thành nhờ các nguồn thu ngân sách liên bang từ dầu khí vượt mức được quy định cho năm tài chính thích hợp với điều kiện khối lượng tích tụ của Quỹ dự trữ không vượt quá mức tiêu chuẩn (10%  GDP), cũng như nhờ thu nhập từ việc quản lý quỹ. Quỹ phúc lợi quốc gia hình thành nhờ các nguồn thu ngân sách liên bang từ dầu khí vượt mức được quy định cho năm tài chính thích hợp với điều kiện Quỹ dự trữ đạt (vượt) mức tiêu chuẩn, cũng như nhờ thu nhập từ việc quản lý quỹ.

     Như vậy, từ năm 2007, ở Nga thực hiện quy tắc ngân sách dựa cả vào việc khấu trừ một phần thu nhập từ dầu khí vào các quỹ tự chủ lẫn dựa vào sử dụng phần thu từ dầu khí là bộ phận cấu thành ngân sách liên  bang  để  thực  hiện  trước  hết  là  các chương trình xã hội quy mô lớn và cung cấp tài chính cho thâm hụt ngân sách liên bang. Ưu điểm của cách tiếp cận này nằm ở sự đơn giản của nó: Mức khấu trừ vào ngân sách được xác định là % GDP và không phụ thuộc vào sự vận động của giá dầu mỏ. Tuy nhiên, theo quan điểm bảo thủ trong lập kế hoạch ngân sách, quy tắc này chỉ hoạt động tốt khi giá dầu mỏ dao động tương đối lớn. Chẳng hạn, trong tình hình những năm 2000, khi giá dầu mỏ tăng ổn định, mức khấu trừ từ dầu mỏ đến năm 2008 (được quy định từ năm 2004) thấp hơn các  nguồn thu ngân sách liên bang thực tế rất nhiều. Trong trường hợp đó, mức thu ngân sách tất yếu phải được xem xét lại theo hướng tăng lên. Nhưng cả việc  quy  định lẫn việc xem xét lại mức khấu trừ đều rất khó luận chứng từ quan điểm kinh tế: Những quyết định như vậy rơi vào chủ nghĩa chủ quan và chịu áp lực vận động hành lang. Vì vậy, việc áp dụng quy tắc này không thể giới hạn ở các khoản chi ngân sách ở mức cần thiết, an toàn theo quan điểm bảo đảm cân bằng ngân sách.

     Hơn nữa, cách tiếp cận phù hợp với quan điểm đảm bảo cân bằng ngân sách là cách tiếp cận tính đến sự phụ thuộc của thu ngân sách vào giá dầu mỏ theo tất cả các kênh - cả trực tiếp lẫn gián tiếp (giá nhiên liệu xuất khẩu, ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập của dân cư, tỷ giá ngoại hối, v.v..). Ngoài ra, cần phải tính đến không chỉ thu nhập cục diện thị trường do dao động của giá dầu mỏ và khí đốt đem lại, mà cả thu nhập chu kỳ gắn với các chu kỳ hoạt động kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, chu kỳ hoạt động kinh doanh của Nga ở mức độ đáng kể được hình thành dưới sự ảnh hưởng của việc thay đổi giá hydrocarbon.

     Theo mức độ đa dạng của nền kinh tế Nga, phần thu ngân sách trong quy  tắc ngân sách cần phải tính đến không chỉ giá dầu mỏ cơ sở, mà còn cả các tham số của chu kỳ hoạt động kinh doanh. Nói cách khác, trong tương lai trung hạn cần phải tách các khoản thu ngân sách mà khi tính toán chúng cần phải tính đến giá dầu mỏ cơ sở và tốc độ tăng GDP trung bình trong một chu kỳ hoạt động kinh doanh. Khi cân bằng các dao động của các tham số ngân sách do hai nguyên nhân trên gây ra cần phải tính đến sự hay thay đổi của cục diện thị trường kinh tế đối ngoại khiến phần thu nhập thừa của ngân sách buộc phải  đưa vào dự trữ. Còn cân bằng các tham số ngân sách trong tiến trình chu kỳ hoạt động kinh doanh thì có thể, như kinh nghiệm thế giới chỉ ra, bằng vay mượn.

     Cách tiếp cận hình thành quy tắc ngân sách trên cơ sở giá dầu mỏ cơ sở phức tạp hơn cách tiếp cận cố định thu ngân sách từ dầu mỏ về kỹ thuật: Để thực hiện nó, khi lập kế hoạch ngân sách cho năm tiếp theo cần phải tính toán hai phương án ngân sách - ngân sách với giá dầu mỏ mong đợi và ngân sách với giá dầu mỏ cơ sở. Mức chi ngân sách giới hạn được xác định tùy theo khối lượng thu ngân sách với giá cơ sở, còn khối lượng thu ngân sách mong đợi cho phép tính toán các khoản thu hoặc các khoản thu hồi có thể từ Quỹ dự trữ.

     (Còn nữa)

     * Tiến sỹ kinh tế, lãnh đạo khuynh hướng “Kinh tế vĩ mô và  tài  chính”,  Viện  Chính  sách  kinh  tế  E.T.  Gaidar (Matxcơva).

     ** Tiến sỹ kinh tế, Giám đốc Học viện Ngoại thương toàn Nga, Bộ Phát triển kinh tế Nga (Matxcơva).

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Các thành phố thông minh ở Châu Âu - Tác giả: Andrea Caragliu, Chiara Del Bo & Peter Nijkamp - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Trần Minh Hoàng

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính Vũ Xuân Bình

- Quản trị văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo ở Singapore - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Nguyễn Thanh Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 2) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà, Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 1) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung