Chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa Mác và xem xét lại lý thuyết dân chủ (Phần cuối) - Tác giả: Angelo Segrillo - Biên dịch: Thái Thị Xuân Minh

26/08/2015 10:49

CHỦ NGHĨA TỰ DO, CHỦ NGHĨA MÁC VÀ XEM XÉT LẠI LÝ THUYẾT DÂN CHỦ

ANGELO SEGRILLO*

Biên dịch: Thái Thị Xuân Minh

Theo: Thông tin Những vấn đề Lý luận

Số 8 năm 2014

                                                                                                                  (Phần cuối)

     CHỈ SỐ CHUNG MỚI CHO DÂN CHỦ CHÍNH TRỊ VÀ KINH TẾ

     Như chúng ta đã thấy, khó khăn chính trong việc đưa phái tự do và phái mácxít đến với nhau để tạo ra một thước đo chung cho dân chủ là: phái tự do nói rằng, dân chủ kinh tế, không giống như dân chủ chính trị ở định nghĩa tối giản của nó, là một khái niệm quá trừu tượng để có thể định lượng và áp dụng được, trong khi đó, phái mácxít không chấp nhận dân chủ chính trị mà không có dân chủ kinh tế. Vì thế, nếu chúng ta có thể tìm ra được một chỉ số mang tính định lượng và áp dụng được cho dân chủ kinh tế thì đó sẽ là một bước tiến lớn. Vì dân chủ kinh tế quả thực là một khái niệm trừu tượng và gây tranh cãi (Ví dụ, Liệu một nền kinh tế hoàn toàn quốc doanh có nghĩa là tất cả mọi người đều kiểm soát tư liệu sản xuất hay là không có ai kiểm soát?) nên chúng tôi đề xuất một chỉ số ủy thác, đó là hệ số Gini đo chênh lệch thu nhập. Như đã nói lúc trước, hệ số Gini không liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu tư liệu sản xuất, nên thậm chí, nó lại có thể là hữu ích. Nó tạo ra một sự cạnh tranh “lành mạnh”, mà vì lẽ đó một hệ thống hay chế độ, trên thực tế, tỏ ra công bằng hơn trong phân phối mà không tùy thuộc vào hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Tất nhiên, hệ số Gini còn xa mới là một chỉ số hoàn hảo, thậm chí ở dưới dạng của chính nó, nhưng nó có thể được coi là một bước đi đầu tiên tạm thời hợp lý (cho đến khi tìm ra được một tiêu chí tốt hơn) theo hướng nỗ lực phối hợp đánh giá dân chủ chính trị và kinh tế.

     Với mục đích minh họa cho việc có thể tạo ra chỉ số này như thế nào, chúng tôi đề nghị làm một bài toán sau. Đối với dân chủ kinh tế, chúng ta sẽ dùng hệ số Gini của các nước khác nhau trong Cơ sở dữ liệu về sự bất bình đẳng thu nhập trên thế giới của Đại học Liên hợp quốc (the World Income Inequality Database of the United Nations University) (2005) và cơ sở dữ liệu TransMONEE (2006) của Trung tâm nghiên cứu Innocenti (Innocenti Research Center) của UNICEF.


     Chỉ số dân chủ chính trị của chúng ta sẽ là giá trị bình quân số học của điểm số các quyền chính trị và các quyền tự do dân sự do Freedom House quy định cho mỗi nước hàng năm (9). Để so sánh các chỉ số Dân chủ Kinh tế và Dân chủ Chính trị, chúng ta sẽ thể hiện cả hai chỉ số này theo thang điểm từ 0 đến 10, với 0 là điểm xấu nhất (tức kém bình đẳng nhất, hay kém dân chủ nhất) và 10 là điểm tốt nhất (bình đẳng nhất, hay dân chủ nhất). Cuối cùng, chỉ số chung của  chúng ta về dân chủ chính trị và kinh tế sẽ là giá trị bình quân số học của hai chỉ số này theo thang điểm từ 0 đến 10. Kết quả trình bày trong Bảng 1.

     Chú thích:

     ED = Dân chủ Kinh tế; PD = Dân chủ Chính trị; ED/PD = hệ số chung ED và PD (điểm bình quân số học của ED và PD).

     Điểm Dân chủ Kinh tế là hệ số Gini về bất bình đẳng thu nhập của mỗi nước thể hiện trên thang điểm tính ngược từ 0 (hoàn toàn bất bình đẳng) đến 10 (hoàn toàn bình đẳng). Điểm Dân chủ Chính trị là điểm bình quân số học theo thang điểm của Free House về các quyền chính trị và tự do dân sự của mỗi nước thể hiện trên thang điểm từ 0 (ít dân chủ nhất) đến 10 (nhiều dân chủ nhất).

     Hệ số Gini của tất cả các nước (trừ Liên Xô và Liên bang Nga) đều lấy từ TransMONEE 2006. Số liệu của Liên Xô, Liên bang Nga, số liệu năm 1989 của các nước Cộng hòa Séc và Xlôvakia, và số liệu năm 2002 của Adécbaigian lấy từ cơ sở dữ liệu trước đây của TransMONEE có trong cơ sở dữ liệu của UNU-WIDER.

     Điểm PD năm 1989 của Liên Xô đã được dùng làm chỉ số ủy thác cho điểm PD của các nước Cộng hòa Xôviết năm 1989. Điểm PD năm 1989 của Tiệp Khắc được dùng làm chỉ số ủy thác cho điểm PD của Cộng hòa Séc và Xlôvakia năm 1989.

     Các cột “Năm 2004 hay dữ liệu Hệ số Gini mới nhất” trình bày ED, PD và hệ số bình quân ED/PD cho năm gần nhất mà hệ số Gini có được của từng nước: 2004 của Amênia, Bêlarút, Bungari, Cộng hòa Séc, Cưrơgưxtan, Látvia, Lítva, Mônđôva, Ba Lan và Rumani; năm 2003 của Extônia, Hungary và Xlôvakia; năm 2002 của Adécbaigian, Grudia, Liên bang Nga và Ukraina.

     Các cột “Biến đổi” trình bày sự tăng hoặc giảm điểm ở giai đoạn từ khi kết thúc chế độ XHCN (năm 1989)  cho đến năm gần đây nhất của từng chỉ số riêng biệt.

     Những khác nhau trong số thập phân là do làm tròn số trong quá trình tính toán.

     Nguồn: TransMONEE2006 database at http:// www.unicef.icdc.org/ resources/transmonee.html; UNU-WIDER World Income Inequality Database at http://www.wider.unu.edu/wiid/wiid.htm; Freedom House homepage at http://www.freedomhouse.org.

      CHỈ SỐ MỚI NÓI VỚI CHÚNG TA ĐIỀU GÌ?

     Bảng điểm với chỉ số mới được lập ra để đo sự chênh lệch trên phương diện dân chủ kinh tế, dân chủ chính trị và đồng thời cả hai phương diện này mà người dân ở các nước đang chuyển đổi đã trải qua trong giai đoạn từ khi kết thúc chế độ XHCN trước đây đến những năm gần đây. Chúng ta hãy phân tích từng nước.

     Tất cả các nước trong bảng khảo sát đều có tình trạng giảm trình độ tự do kinh tế. Sự bất bình đẳng thu nhập (đo bằng hệ số Gini) đã ngày càng xấu đi, có nước nhiều, nước ít. Mức bình đẳng thu nhập giảm mạnh nhất ở Liên bang Nga (từ 7,3 xuống 5,1, giảm 2,2 điểm), Acmênia (từ 7,5 xuống 5,4, giảm 2,1 điểm), Adécbaigian (từ 6,9 xuống 4,9, giảm 2,0 điểm), Grudia (từ 7,2 xuống 5,5, giảm 1,7 điểm) và Mônđôva (từ 7,5 xuống 5,8, giảm 1,7 điểm). Các nước có mức giảm ít nhất về Dân chủ Kinh tế là Bêlarút (từ 7,7 xuống 7,5, giảm 0,2 điểm), Cộng hòa Séc (từ 8,0 xuống 7,6, giảm 0,4 điểm), Hungary (từ 7,8 xuống 7,3, giảm 0,5 điểm) và Lítva (từ 7,4 xuống 6,9, giảm 0,5 điểm).

     Về Dân chủ Chính trị, các nước có kết quả kém nhất trong thời kỳ này là: Tuốcmênixtan và Udơbêkixtan (cả hai giảm từ 2,5 xuống 0, tức giảm 2,5 điểm); Bêlarút (từ 2,5 xuống 0,8, giảm 1,7 điểm); Tatgikixtan, Cadắcxtan, Adécbaigian và Liên bang Nga (tất cả bốn nước này đều có trình độ Dân chủ Chính trị ở năm 2006 giống nhau [tức 2,5] như năm 1989). Tiến bộ nhất về Dân chủ Chính trị so với năm 1989 là Bungari (từ 0 lên 9,2, tăng 9,2 điểm), Cộng hòa Séc (từ 1,7 lên 10, tăng 8,3 điểm), Xlôvakia  (từ 1,7 lên 10, tăng 8,3 điểm) và Rumani (từ 0 lên 8,3, tăng 8,3 điểm).

     Xét về hệ số chung dân chủ chính trị và kinh tế, cải thiện nhiều nhất là Bungari (từ 3,9 lên 7,8, tăng 3,9 điểm), Cộng hòa Séc (từ 4,9 lên 8,8, tăng 3,9 điểm), Xlôvakia (từ 4,9 lên 8,1, tăng 3,2 điểm) và Rumani (từ 3,8 lên 7,0, tăng 3,2 điểm). Giảm mạnh nhất là ở các nước Adécbaigian (từ 4,7 xuống 3,7, giảm 1,0 điểm), Bêlarút (từ 5,1 xuống 4,2, giảm 0,9 điểm), Liên bang Nga (từ 4,9 xuống 4,3, giảm 0,6 điểm) và Cưrơgưxtan (từ 4,9 xuống 4,4, giảm 0,5 điểm).

     Các số liệu trên cho thấy sự đa dạng trong kết quả quá trình chuyển đổi ở mỗi nước. Một số nước rõ ràng đã thành công hơn các nước khác trong các lĩnh vực khác nhau. Điểm ưu việt chủ yếu của một chỉ số chung phản ánh cả dân chủ kinh tế và chính trị, chứ không chỉ riêng dân chủ chính trị, là nó cho thấy cả hai lĩnh vực này đều cần phải được tính đến nếu chúng ta muốn hiểu đầy đủ tác động của các quá trình chuyển đổi đối với người dân và phản ứng của họ. Mặc dù một số nước đạt được những thành quả to lớn (nhất là về mặt dân chủ chính trị), nhưng dân chủ kinh tế ở các nước này đều xấu đi. Đó có thể là điểm chính của tâm trạng bất ổn mà các cuộc tham khảo ý kiến ở các nước này cho thấy, nó thể hiện rằng, mức độ không hài lòng bên trong các chế độ hiện nay (thậm chí, đôi khi đó là sự tiếc nuối của một số bộ phận nhân dân về thời kỳ đã qua) là không tương thích với những cải thiện kể từ thập kỷ gần đây nhất (Levada 2000; Polit.ru 2002). Chỉ số mới này làm sáng tỏ và đưa ra tranh luận công khai vấn đề dân chủ kinh tế, nếu không thì không thể hiểu đầy đủ về các quá trình chuyển đổi trong những năm vừa qua.

     Vì mục đích của bài viết này là đưa ra một bộ ba chỉ số mới một cách đại thể, nên chúng tôi sẽ không phân tích chi tiết tác động của các số liệu nói trên đối với từng nước. Chúng tôi chỉ nêu rõ rằng, bảng điểm nói trên có thể được phân tích theo rất nhiều cách: đặc thù của những nước thành công nhất và ít thành công nhất; các con đường phát triển dường như tốt hơn để đạt điểm cao hơn trong cả ba lĩnh vực; tình hình thực tế hiện nay ở cả ba lĩnh vực chịu tác động ở mức nào bởi tàn dư của quá khứ XHCN và ở mức nào bởi chính quá trình chuyển đổi, v.v. Liệu chỉ số này có cho thấy rằng có những con đường tốt hơn cho cả hai phía dân chủ chính trị và dân chủ kinh tế? Hay các con đường đi đến dân chủ chính trị và kinh tế là riêng rẽ? Tất cả các lĩnh vực nghiên cứu này đều hết sức phong phú và chắc chắn sẽ cho chúng ta nhiều hiểu biết mới mẻ. Hy vọng bộ ba chỉ số mới đó có thể thúc đẩy cách thức nghiên cứu này của cả hai phái tự do và mácxít trong cuộc đối thoại hiệu quả.

     CÁC KHÓ KHĂN VÀ KHẢ NĂNG BIẾN THỂ TRONG VIỆC ÁP DỤNG CHỈ SỐ MỚI

     Thậm chí, nếu có chấp nhận ý tưởng trắc lượng dân chủ kinh tế đồng thời với dân chủ chính trị (là nội dung chính của bài này), thì cũng có thể xảy ra các tranh luận thú vị về việc làm thế nào áp dụng tốt nhất chỉ số mới.

     Ở trường hợp cụ thể trong bảng so sánh nói trên về các nước đang chuyển đổi, người ta có thể tranh luận, liệu có phải là cách tiếp cận thích hợp nhất không khi so sánh tình hình hiện nay với tình hình ở những năm cuối công cuộc cải tổ (perestroika) của các nước này. Một số có thể cho rằng, tốt hơn là nên so sánh tình hình hiện nay với tình hình trước năm 1985 (hay với điểm bình quân của tất cả các năm cải tổ), vì đây là những giai đoạn rất đặc trưng của trải nghiệm CNXH. Cả ba cách làm này đều có cơ sở lập luận hợp lý và sẽ cho ra kết quả khác nhau. Đối với phần lớn các nước đó, thành quả trong dân chủ chính trị sẽ nhiều hơn, và sự tụt dốc trong dân chủ kinh tế cũng sẽ nhiều hơn, nếu chúng ta chọn đúng thời điểm ở giai đoạn đã qua để so sánh, vì các chế độ XHCN lúc đó vừa chuyên quyền vừa quân bình chủ nghĩa nhiều hơn. Cũng như vậy, tùy vào thời điểm bắt đầu triển khai tự do hóa của mỗi nước mà những gì đạt được hiển nhiên trong dân chủ chính trị có thể là nhiều hơn, hay ít hơn, tùy vào việc chúng ta lấy năm nào làm cơ sở để so sánh. Nói tóm lại, nó sẽ tạo ra một cuộc tranh luận lành mạnh và hiệu quả để phát hiện ra tất cả các kịch bản có thể xảy ra với bộ ba chỉ số này và phân tích các so sánh khác nhau đó cho ra kết quả gì.

     Tuy nhiên, các câu hỏi chính mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây liên quan đến chỉ số chung tự, không phụ thuộc vào nhóm nước được phân tích. Tôi đã nói rõ vì sao tôi coi hệ số Gini về sự khác biệt thu nhập là một chỉ số ủy thác thích hợp có tính chất phác thảo tạm thời ban đầu cho dân chủ kinh tế (cho đến khi chúng ta tạo ra được một chỉ số tốt hơn). Mặc dù nó không liên quan trực tiếp đến phương thức sở hữu tư liệu sản xuất (như một số người theo phái mácxít có thể ưa thích), nhưng nó nắm bắt được kết quả phân bổ sử dụng tư liệu sản xuất, mà đó chính là thực chất của vấn đề khi nói đến toàn dân.

     Một phản đối chính khác đối với việc áp dụng hệ số Gini sẽ là vấn đề về tính so sánh. Cũng như hầu hết các chỉ số so sánh kinh tế chéo giữa các nước, hệ số Gini cũng làm dấy lên các vấn đề về tính so sánh. Việc sử dụng khái niệm và phương pháp khảo sát  khác nhau giữa các nước hoặc dùng các nguồn dữ liệu khác nhau làm hỏng sự so sánh. Có hai giải pháp cho vấn đề này. Trước hết, cần xem xét cẩn thận phương pháp luận khảo sát và sử dụng các khảo sát có cách tiếp cận giống nhau để so sánh. Thứ hai, chính việc phát triển lĩnh vực này và việc sử dụng các chỉ số như vậy đưa đến quy chuẩn hóa quy trình so sánh, và vì thế càng làm cho tính so sánh tăng lên. Ví dụ, nhiều nước OECD đã thực hiện quy chuẩn hóa số liệu thống kê, như nêu trong công trình của Tổ chức nghiên cứu thu nhập Lúcxembua (Luxembourg Income Study).(10) Hy vọng là việc mở rộng áp dụng hệ số Gini sang các lĩnh vực khác sẽ giúp thúc đẩy hơn nữa các nỗ lực tiếp tục quy chuẩn hóa số liệu thống kê chéo giữa các nước. Như chúng ta đã nêu ở trên, hệ số Gini là hệ số ủy tháctạm thời để kết hợp ban đầu về mặt định lượng phương diện kinh tế vào cuộc tranh luận về dân chủ. Việc sử dụng nó có thể được hoàn thiện, hoặc thay thế, trong quá trình chúng ta tiến lên trên con đường chưa ai vạch sẵn.

     Trong phần trình bày này, chúng tôi trực tiếp lấy điểm số của Freedom House để xác định trình độ dân chủ chính trị của từng nước. Mục này cũng có thể cải thiện. Bảng xếp hạng của Freedom House đã bị phê phán ở nhiều mặt khác nhau (nhất là vì phần nào có thành kiến về hệ tư tưởng) và nếu quan tâm chú ý đến một số ý kiến phê phán đó thì có thể cải thiện được phương pháp luận của họ. Một khía cạnh mà tôi cho là quan trọng về mặt kỹ thuật là việc khuyến khích thay đổi thang điểm (hiện nay từ 7 xuống 1, với 1 là tự do nhất và 7 là ít tự do nhất). Việc này sẽ dồn số đông các nước xuống gần cuối thang điểm, mà kết quả là Lítva, Hungary, Ba Lan, v.v. được coi là đã đạt tới trình độ dân chủ chính trị (= 1, hay tối đa) như của Đan Mạch hoặc Thụy Điển chẳng hạn. Tốt hơn là nên có một thang điểm mở hơn, giống như hệ số Gini, ví dụ, ở mục nào mà không một nước nào có thể đạt được điểm cao nhất (hàm ý công bằng nhất) thì nên so sánh giữa các nước đứng ở hàng đầu với nhau mà thôi. (11)

     Chỉ số chung của tôi có thể bị phản đối rằng, việc lấy giá trị bình quân số học giữa tiêu chí dân chủ chính trị và tiêu chí dân chủ kinh tế là một phương pháp giản đơn thái quá để đo hai đại lượng khác nhau về định lượng. Câu trả lời của tôi gồm ba ý. Thứ nhất, hệ số bình quân số học (thay vì hệ số bình quân số lượng rắc rối hơn) thể hiện niềm tin rằng cả dân chủ chính trị và dân chủ kinh tế đều quan trọng như nhau. Thứ hai, sự đơn giản và súc tích (nói gọn là chủ nghĩa tối giản) là quan trọng để đột phá vào hàng rào nhận thức luận phức tạp trước đây. Định nghĩa tối giản của Schumpeter về dân chủ (mà lúc đầu một số tác giả cho là giản lược thái quá) là một trong những trường hợp đó. Cuối cùng, tôi muốn khẳng định lại rằng, bộ ba chỉ số của tôi là một nỗ lực ban đầu để tạo ra một tiêu chí chung về dân chủ chính trị và kinh tế bằngmột cách tiếpcận tối giản (cho đến khi chúng ta có thể tạo ra được một tiêu chí công phu hơn).

     Tôi tin rằng, bộ ba chỉ số mà tôi đề xuất đứng ở giữa, như một sự thỏa hiệp “cho và nhận” giữa lập trường của phái mácxít và phái tự do, là hợp lý hơn so với các chỉ số khác đã có trong các tài liệu của chúng ta hiện nay. Các điểm số của Freedom House, các thang điểm về dân chủ và chuyên quyền của Polity Project (Dự án chính thể), bộ dữ liệu về chế độ đa trị của Vanhanen, và thang điểm về chế độ đa trị của Coppedge-Reinicke đều tập trung vào dân chủ chính trị. Phái mácxít phản đối sự độc tôn đó và cả các chỉ số hiện hành về tự do kinh tế, như Chỉ số Tự do Kinh tế của Quỹ Di sản (Heritage Foundation’s Index of Economic Freedom), Các chỉ số chuyển đổi của Ngân hàng tái thiết và phát triển Châu Âu (EBRD’s Transition Indicators) và Chỉ số tự do hóa tích lũy của Melo và cộng sự (1996) thuộc Ngân hàng Thế giới (the Cumulative Liberalization Index by the World Bank’s de Melo et al. (1996),  mà, theo họ, cơ bản là trắc lượng độ tự do tiến hành kinh doanh. Nhưng mặt khác, nỗ lực của phái mácxít hay dân chủ xã hội đã hướng các nhà xã hội học vào sử dụng các khái niệm gần với dân chủ kinh tế hơn, chẳng hạn như các tài liệu sơ khai từ xa xưa về dân chủ nơi làm việc và sự kiểm soát của công nhân ở những thập kỷ trước nói chung vẫn mang tính quy phạm và mô tả. Và như thế, chúng không tạo ra được một chỉ số mang tính định lượng đáp ứng yêu cầu ứng dụng của các nhà khoa học chính trị theo trường phái thể chế tự do. (12)

     Tất cả các ý kiến này đều là cho tương lai. Bài viết này sẽ đạt được mục đích của mình nếu nó có thể thuyết phục được một số người trong phái tự do và phái dân chủ về sự cần thiết phải đánh giá và đo cả dân chủ chính trị lẫn dân chủ kinh tế. Nó đề xuất một phương cách khả thi để làm điều đó.

     Nếu chấp nhận thách thức này, thậm chí, nếu phái mácxít và phái tự do làm việc riêng rẽ, thì một công việc so sánh rất thú vị cũng có thể được tiến hành trong tương lai gần. Chẳng hạn như, khảo sát trình độ dân chủ chính trị và kinh tế của các nước trước và sau làn sóng dân chủ hóa; so sánh sự chuyển tiếp ở Đông Âu và Mỹ Latinh; phân tích quá trình chuyển đổi hiện nay ở các nước Châu Á, v.v.

     Tuy nhiên, kết quả lớn nhất có thể đạt được là, nếu phái mácxít và phái tự do từ bỏ thái độ kiểu trò chơi kết quả bằng không giữa họ với nhau và tham gia vào một cuộc đối thoại xây dựng với mục đích không phải là “đánh bại” đối thủ, mà là thông qua thảo luận để có được những hiểu biết sâu sắc nhất, kết hợp được cái tốt nhất trong lập trường của mỗi bên. Tôi hy vọng là việc dùng các tiêu chuẩn so sánh khách quan, đo lường được làm công cụ để đánh giá dân chủ chính trị và kinh tế có thể là sự khởi đầu của một nỗ lực đưa các đối thủ có tư tưởng ôn hòa hơn của cả hai phái đến chỗ tạo ra được một cuộc thảo luận có ý nghĩa và không định kiến về dân chủ. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, một mình nhà nước hay thị trường không thể quản lý được hết sự phát triển của các xã hội hiện đại. Các thập kỷ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai và kinh nghiệm nhà nước phúc lợi đã cho thấy, việc cùng đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội là có thể thực hiện được. Ý thức hệ (Weltanschauung) này đã phải chịu những bước thụt lùi trong các thập kỷ 1980 và 1990, khi một lần nữa chấp nhận tách rời một cách cực đoan giữa thị trường với nhà nước. Như thế, các nỗ lực nhằm tạo ra một sự kết hợp biện chứng của hai phái đối lập hiển nhiên, chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa tự do, đã trở nên quan trọng không chỉ về mặt lý luận, mà cả về mặt thực tiễn. Cần phải khôi phục quan niệm rằng, nhà nước và thị trường, công bằng xã hội và hiệu quả, dân chủ chính trị và kinh tế tự nó không đối lập nhau và có thể đến với nhau một cách hài hòa hơn.

     Cuối cùng, liệu có quá ảo tưởng nếu nghĩ rằng, một sự kết hợp theo kiểu Hêgen giữa hai phe chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa tự do sẽ đạt được trong tương lai và cuối cùng trong thực tiễn lịch sử sẽ xuất hiện một xã hội có cả dân chủ chính trị và kinh tế ở trình độ cao nhất?

     *ANGELO SEGRILLO (Khoa Lịch sử, Đại học tổng hợp Sao Paulo.

     T/c: “Nghiên cứu khoa học chính trị Braxin”, tập 6, số 2/2012.)

     Chú thích:

     9. Việc tạm dùng hệ số Gini làm hệ số ủy thác phác thảo ban đầu cho trình độ dân chủ kinh tế cũng có thể vượt qua được cản trở có thể có bởi sự phê phán cào bằng về việc phái mácxít bảo vệ cho quyền sở hữu tập thể đối với tư liệu sản xuất như là quyền sở hữu dân chủ hơn so với sở hữu tư nhân. Nhiều nhà kinh tế học không theo quan điểm mácxít nói rằng, mục đích cuối cùng của sản xuất là tiêu dùng và vì quyền sở hữu của nhà nước XHCN không được quản lý đầy đủ, nên phần lớn người dân sẽ có mức sống cao hơn, nếu các nhà máy và các đơn vị sản xuất khác được tư nhân hóa và điều hành hiệu quả hơn. Như vậy, thông qua thuế, phần thu nhập lớn hơn có thể được phân phối lại sang cho người dân (mô hình nhà nước phúc lợi của Keyne). Nói cách khác, với nền kinh tế tư nhân hóa, nhưng được điều hành tốt hơn, thì phần lớn người dân sẽ có mức sống cao hơn (nhờ phân phối lại thu nhập thông qua thuế) so với ở một xã hội nơi tư liệu sản xuất xã hội hóa nhưng quản lý tồi. Đây là cơ sở pháp luật của một quyết định (ratio decidendi) đằng sau các quá trình tư nhân hóa ở Đông Âu. Việc dùng hệ số Gini có tác động phụ (có lợi) để đáp trả lập luận này vì nó trắc lượng dân chủ kinh tế ở phương diện đầu ra, tức căn cứ vào thu nhập hay của cải làm ra được, chứ không phải chỉ căn cứ vào sự chiếm hữu tư liệu sản xuất.

Xem http://www.freedomhouse.org của Freedonm House

     10. Xem http://www.lisproject.org của Luxembourg Income Study.

     11. Về mặt lý thuyết, điểm cao nhất về dân chủ tính theo thang điểm kiểu hệ số Gini như thế sẽ là trình độ đạt được của một xã hội có dân chủ tự do trực tiếp và quyền bầu cử phổ thông đầy đủ. Một xã hội càng tiến gần (bằng các cơ chế khác nhau, kể cả đại diện trực tiếp) đến lý tưởng đó (trong thực tiễn lịch sử cho đến nay chưa thể đạt đến được), thì xã hội đó sẽ càng dân chủ. Xin xem lại cuộc thảo luận về nguồn gốc lịch sử của dân chủ trực tiếp ở đầu bài này để hiểu rõ lô-gíc của lập luận nói trên.

     12. Về các chỉ số đã nêu ở trên, xin xem the Freedom House website at http://www.freedomhouse.org; Polity IV Project website at http://www.cidcm.umd.edu/polity; Vanhanen’s Polyarchy dataset at http://www.svt.ntnu.no/iss/data/Vanhanen; Coppedge & Reinicke 1990; Index of Economic Freedom website at http://www.heritage.org/index; Transition Report (various years) at http:// www.ebrd.com and Melo et al., 1996. Về tài liệu về dân chủ ở nơi làm việc hay sự kiểm soát của công nhân, xin xem, ví dụ, Blumberg 1968, Hunnius và cộng sự 1973, Stephens 1980.

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Các thành phố thông minh ở Châu Âu - Tác giả: Andrea Caragliu, Chiara Del Bo & Peter Nijkamp - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Trần Minh Hoàng

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính Vũ Xuân Bình

- Quản trị văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo ở Singapore - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Nguyễn Thanh Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 2) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà, Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 1) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung