Chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa Mác và xem xét lại lý thuyết dân chủ (Phần 1) - Tác giả: ANGELO SEGRILLO - Biên dịch: Thái Thị Xuân Minh

19/08/2015 10:04

CHỦ NGHĨA TỰ DO, CHỦ NGHĨA MÁC VÀ

XEM XÉT LẠI LÝ THUYẾT DÂN CHỦ

ANGELO SEGRILLO*

Biên dịch: Thái Thị Xuân Minh

Theo: Thông tin Những vấn đề Lý luận

Số 7 năm 2014

      “Chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa Mác là hai trường phái tư tưởng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lý thuyết xã hội, chính trị và kinh tế học, và thường được nhìn nhận như hai quan điểm đối lập và kình địch nhau. Trong lĩnh vực dân chủ, sự bất hòa dường như không thể vượt qua được xoay quanh vấn đề dân chủ chính trị đối lập với dân chủ kinh tế. Phái tự do nhấn mạnh dân chủ chính trị, phái mácxít nhấn mạnh dân chủ kinh tế. Phái tự do nói rằng, tự do kinh tế là một khái niệm quá trừu tượng và mơ hồ, vì thế cần tập trung vào các công trình về một nền dân chủ chính trị khách quan. Phái mácxít kiên trì cho rằng, dân chủ chính trị mà không có dân chủ kinh tế là không đầy đủ.

      Bài viết này cho rằng, cả hai ý kiến đều có giá trị và không loại trừ lẫn nhau, và đề xuất tạo ra một chỉ số mang tính ứng dụng và tính định lượng về dân chủ kinh tế để có thể sử dụng song song với các chỉ số hiện có về dân chủ chính trị. Bằng cách sử dụng kết hợp cả hai chỉ số này, dân chủ chính trị và dân chủ kinh tế có thể được đánh giá một cách khách quan. Như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của cả hai phái và có thể đạt được một cách tiếp cận mang tính đối thoại hơn đối với vấn đề dân chủ trong cuộc tranh luận giữa hai phái tự do và mácxít. Chỉ số chung đó dùng để đánh giá trình độ dân chủ kinh tế và chính trị ở các nước đang chuyển đổi ở Đông Âu”.

      Chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa Mác là hai trường phái tư tưởng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lý thuyết chính trị, xã hội và kinh tế học. Cả hai trường phái đều đã minh họa rất hữu hiệu cho phạm vi rộng lớn các vấn đề chung trong các lĩnh vực này, nhưng cũng thường được coi là hai cách tiếp cận đối lập và kình địch nhau. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu buộc các nhà lý luận về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa tự do phải tiếp tục tìm hiểu sâu hơn nữa quá trình đó - để phái mácxít hiểu rõ hơn về sự tan vỡ của CNXH và phái tự do chú ý hơn đến sự chuyển đổi chính trị và kinh tế sang CNTB. Do bối cảnh xung quanh các diễn biến này - dường như như là thắng lợi hoàn toàn của bên này đối với bên kia - nên nhiệm vụ chung phân tích công cuộc cải tổ (perestroika) và kinh nghiệm chuyển đổi đã không đưa hai quan điểm đối lập này xích lại gần nhau hơn, mà thậm chí còn có thể dẫn đến đào sâu hơn hố ngăn cách giữa chúng.

      Bài viết này cho rằng, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa Mác là những cách tiếp cận hết sức hữu ích và không loại trừ lẫn nhau. Tôi xin đề xuất một số bước đi ban đầu theo hướng kết hợp chúng lại ở chính nguyên nhân lớn nhất gây nên bất hòa - đó là vấn đề dân chủ. Ở đây không đề xuất kết hợp quy mô lớn, mà chỉ là bắt đầu một nỗ lực khiêm tốn nhằm đưa các đối thủ ôn hòa hơn của mỗi bên đến chỗ dùng một số hiểu biết của mình để cùng nhau làm sáng tỏ vấn đề phức tạp này. Trên thực tế, tôi sẽ đề xuất tạo ra một chỉ số mới thay thế để đo sự dân chủ, nó kết hợp cả hiểu biết của phái tự do lẫn phái mácxít và do vậy có thể dễ chấp nhận hơn cho cả hai phái so với các chỉ số đang được sử dụng hiện nay. Tôi hy vọng, nếu chúng ta tạo ra được một chỉ số mà cả hai phái có thể chấp nhận được thì có thể đi đến cùng phối hợp nghiên cứu, làm sâu sắc thêm hiểu biết của chúng ta hiện nay về dân chủ và về những khó khăn mà nền dân chủ đang còn phải đối mặt để được chấp nhận hoàn toàn ở nhiều nơi trên thế giới.

      Bài viết này gồm ba phần: trình bày sự phát sinh vấn đề dân chủ trong lịch sử giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa Mác; đề xuất kết hợp bước đầu các quan điểm mácxít và tự do bằng cách tạo ra một chỉ số chung về dân chủ, trong đó kết hợp quan điểm cơ bản của cả hai trường phái; và sơ bộ áp dụng chỉ số này vào nghiên cứu các nước đang chuyển đổi ở Đông Âu.

      Vì chúng ta tập trung vào kinh nghiệm của các nước chuyển đổi dân chủ nên chúng ta sẽ bắt đầu từ việc mô tả các định nghĩa dân chủ đang được dùng trong các nghiên cứu về chuyển đổi.

      KHÁI NIỆM DÂN CHỦ TRONG NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỂN ĐỔI

      Khái niệm dân chủ xuất hiện đã từ lâu và là một khái niệm gây nhiều tranh cãi, nhưng phiên bản mà phần lớn các nhà chính trị học thuộc các trào lưu chính (đặc biệt là các nhà nghiên cứu về chuyển đổi) sử dụng thì có nguồn gốc từ định nghĩa tối giản nổi tiếng của Joseph Schumpeter (1984, 336) về dân chủ như là “sự sắp đặt thể chế để đi đến quyết định chính trị, mà trong đó, các cá nhân giành quyền quyết định bằng phương thức một cuộc đấu tranh mang tính cạnh tranh để giành lấy phiếu bầu của người dân”. Nói cách khác, dân chủ được đặc trưng bởi sự tồn tại của bầu cử cạnh tranh để giành các chức vụ hành pháp và lập pháp thay vì được bổ nhiệm theo kiểu kế vị cha truyền con nối, bằng biện pháp bạo lực cách mạng, v.v. Theo Schumpeter, đây là một định nghĩa mang tính mô tả, tức nó mô tả một cách khách quan các nền dân chủ hiện đại, và như thế, tránh được những định nghĩa mang tính chủ quan, quy phạm quy định một nền dân chủ lý tưởng phải ra sao theo thế giới quan của từng tác giả. Như Samuel Huntington đã nói:

      Trong công trình nghiên cứu mở đường của mình “CNTB, CNXH và Dân chủ”, Schumpeter đã giải thích rõ những khiếm khuyết của cái mà ông gọi bằng thuật ngữ “thuyết dân chủ cổ điển” định nghĩa dân chủ ở phương diện “ý nguyện của nhân dân” (nguồn gốc) và “lợi ích chung” (mục đích) […]

      Khoảng sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, đã diễn ra cuộc tranh luận giữa những người kiên trì, theo lối kinh điển, định nghĩa dân chủ theo nguồn gốc hoặc mục đích với ngày càng đông đảo các lý thuyết gia trung thành với một khái niệm mang tính thủ tục về dân chủ theo phương cách của Schum-peter. Đến những năm 1970 cuộc tranh luận kết thúc và Schumpeter đã thắng. Các lý thuyết gia đã vạch ra ngày càng nhiều khác biệt giữa một mặt là các định nghĩa duy lý, không tưởng, duy tâm về dân chủ với mặt khác là các định nghĩa mang tính thực nghiệm, mô tả, thể chế và thủ tục; và họ kết luận rằng, chỉ các loại định nghĩa thứ hai mới cho sự chính xác trong phân tích và được dùng để tham khảo trong thực nghiệm, khiến khái niệm đó trở nên hữu dụng. Các tranh cãi về dân chủ từ góc độ một lý thuyết mang tính quy phạm đã giảm mạnh, ít nhất là trong các cuộc tranh luận học thuật ở Mỹ, và được thay bằng các nỗ lực tìm hiểu rõ bản chất của các thiết chế dân chủ, chúng vận hành như thế nào và lý do vì sao chúng phát triển và sụp đổ (Huntington 1991, 6-7).

      Như thế, khái niệm tối giản của Schum-peter về dân chủ là cơ sở cho khoa học chính trị chủ đạo ở Phương Tây hiện nay. Nó đặc biệt có ảnh hưởng trong lĩnh vực nghiên cứu các quá trình chuyển đổi dân chủ (Hunting-ton 1991, 7; O’Donnell và Schmitter 1988, 26; Przeworski 1991, 10; Przeworski và cộng sự 1997, 114; Schmitter & Karl 1996, 50). Các định nghĩa về dân chủ dùng để nghiên cứu các nước đang chuyển đổi dân chủ là “những kẻ thừa kế của Schumpeter” với nghĩa, chúng phần lớn có được là nhờ nhà tư tưởng người Áo này.  Nhất là, nếu chú ý đến lời cảnh báo của O’Donnell về tính chất “không tối giản đến như vậy” của định nghĩa của Schumpeter,(1) chúng ta phải thừa nhận rằng, phần lớn các định nghĩa đang dung hiện nay ít nhiều đều là những biến thể pha trộn từ một nguyên bản “mẹ” của Schum-peter. Ví dụ, dân chủ là…

       […] một chế độ trong đó các chức vụ trong chính quyền được bố trí bằng phương thức bầu cử cạnh tranh. Một chế độ chỉ dân chủ, nếu phe đối lập [có thể] tranh cử, thắng cử và nắm giữ các chức vụ này (Przeworski và cộng sự 1997, 131).

       [...]một hệ thống chính trị mà trong đó - những người có quyền lực nhất để ra quyết định được bầu lên thông qua bầu cử công bằng, trung thực và định kỳ, nơi các ứng cử viên được tự do tranh cử để giành phiếu bầu và hầu hết tất cả người dân trưởng thành đều có đủ tư cách bầu cử (Huntington 1991,7).

       […] một hệ thống quản trị mà trong đó những người cầm quyền có trách nhiệm giải trình công khai về hoạt động của mình trước công dân, hoạt động gián tiếp thông qua cạnh tranh và hợp tác với các đại diện đã được công dân bầu ra (Schmitter & Karl 1996, 50).

       […] một hệ thống chính quyền đáp ứng ba điều kiện thiết yếu: cạnh tranh có ý nghĩa và rộng rãi của các cá nhân và các nhóm có tổ chức (nhất là các chính đảng) để giành tất cả các vị trí hữu hiệu trong chính quyền, theo định kỳ và không sử dụng bạo lực; một trình độ tham gia chính trị mang tính chất thu nạp cao để lựa chọn lãnh đạo và chính sách, ít nhất là thông qua bầu cử dân chủ và định kỳ, không trừ một nhóm xã hội gồm những người trưởng thành (người lớn) nào; và là một trình độ tự do dân sự và chính trị - tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thành lập và tham gia các tổ chức - đủ để bảo đảm tính liêm chính trong tranh cử và tham gia chính trị (Diamond và cộng sự 1989, xvi).

      Họ là một số trong số các lý thuyết gia quan trọng nhất về chuyển đổi dân chủ và các tiến trình hòa giải trên thế giới hiện nay. Các định nghĩa của họ, từ hai định nghĩa đầu tiên tối giản hơn cho đến những định nghĩa cuối cùng công phu hơn, như định nghĩa của Schumpeter, đều coi việc cần nhấn mạnh nhất trong vấn đề dân chủ là phương pháp lựa chọn người cầm quyền (và khả năng tự trở thành người cầm quyền), nhấn mạnh bầu cử phải “trong sạch” và “mang tính cạnh tranh”, theo đó trước hết phải có một loạt các quyền tự do dân sự và chính trị.

      Khái niệm dân chủ của Schumpeter đã bị phê phán bởi các quan điểm khác nhau (chẳng hạn, Held 1987, 178-85), tuy nhiên, ở đây tôi muốn lưu ý một khía cạnh đặc thù của vấn đề này. Các khái niệm mang tính chất thủ tục (mô tả) về dân chủ theo kiểu Schumpeter biến dân chủ tự do đại diện thành kiểu dân chủ thực sự duy nhất có thể thực hiện được. Trong đó, vai trò chính trị chính yếu của đông đảo người dân là bầu ra (hoặc bãi miễn), một cách rất tự do và có cạnh tranh, những công dân đặc biệt sẽ đại diện cho mình trong các cơ quan hành pháp và lập pháp của chính quyền. Theo những “kẻ thừa kế trí tuệ” [định nghĩa] của Schum-peter, kinh nghiệm lịch sử đã chỉ ra rằng, chính bằng mô hình tổ chức chính trị này mà các xã hội hiện đại đã đạt được trình độ tự do cao nhất cho công dân của mình. Tuy nhiên, việc nâng dân chủ tự do đại diện này lên địa vị kiểu mẫu duy nhất có giá trị lại kéo theo nó nhiều mâu thuẫn với các định nghĩa dân chủ dựa trên nguồn gốc lịch sử và từ nguyên của nó. Chúng ta hãy xem xét chi tiết hơn vấn đề này.

      NGUỒN GỐC CỦA DÂN CHỦ

      Nói theo từ nguyên học, từ dân chủ xuất phát từ tiếng Hy Lạp demokratia (demos, “nhân dân”, kratia gắn với Kratos, “sức mạnh”, quyền lực” và kratein, “cai trị”, “quản trị”) có nghĩa là “quyền lực của nhân dân”, “sự cai trị của nhân dân”. Nó chỉ hệ thống chính quyền của Athens ở thế kỷ V trước công nguyên. Ở Athens, mỗi công dân (nam giới đã trưởng thành) có thể tự mình bỏ phiếu ở Đại hội công dân eklesia) về những vấn đề quan trọng nhất của thành phố. Ngoài eklesia - họp ít nhất 10 lần trong một năm - công dân Athen còn bầu ra một Hội đồng (boule) gồm 500 người thực hiện quyền hành pháp, tiến hành các công việc hang ngày, thực thi các quyết định của Đại hội, chuẩn bị chương trình nghị sự cho các phiên họp của Đại hội, v.v. Các ủy viên Hội đồng được bầu ra với nhiệm kỳ một năm. Hội đồng được chia thành các ủy ban, mỗi ủy ban gồm 50 thành viên, mỗi ủy ban chịu trách nhiệm điều hành công việc trong 1/10 thời gian của một năm. Vì không ai được phép tại nhiệm ở Hội đồng 500 người trên hai năm, nên những người dân thường có cơ hội để tham gia Hội đồng vào một thời gian nào đó trong đời. Việc luân chuyển các chức vụ trong chính quyền được coi là một phương pháp tốt để tránh hình thành các chính thể đầu sỏ và đảm bảo sự tham gia. Các “chính trị gia” thời đó nói chung không phải là chuyên nghiệp, mà là nghiệp dư (2).

      Như vậy, ở nguồn gốc xuất xứ Hy Lạp của nó, dân chủ là trực tiếp, tức công dân đích thân và trực tiếp bầu ra Đại hội công dân, và quyền hành pháp của Hội đồng 500 người không phải do một tầng lớp riêng lẻ các chính trị gia thực hiện, mà là do chính các công dân luân phiên nhau thực hiện. Dân chủ là một hình thức mới của chính quyền, trong đó toàn thể công dân có thể thực thi quyền lực, khác với các chế độ quân chủ/chuyên chế (một người cai trị), hay chế độ quý tộc/chính trị đầu sỏ (sự cai trị của một số ít người). Ý nguyện của đa số người dân phải là cơ sở cho các quyết sách cuối cùng.

      Điểm chính mà chúng ta bàn đến là dân chủ, ở nguồn gốc xuất xứ của nó, căn bản là trực tiếp (không qua “người trung gian”). Điều quan trọng là phải nhấn mạnh điểm này, bởi vì, sau thời kỳ hoàng kim của nó ở Athens, dân chủ đã trải qua thời kỳ bị lu mờ suốt nhiều thế kỷ. Ngoại trừ một vài trường hợp cá biệt, dân chủ chỉ xuất hiện trở lại như một chế độ chính trị sau “cú sốc dân chủ hóa” bởi cuộc Cách mạng Pháp (1789) và cuộc Chiến tranh giành độc lập ở Mỹ (1775-1781) trên nguyên tắc chủ nghĩa tự do chính trị sinh ra trong cuộc Cách mạng vinh quang ở Anh (1689). Chủ nghĩa tự do với khởi điểm của nó ở thế kỷ XVII là một học thuyết của tầng lớp tinh hoa. Chỉ sau cú sốc dân chủ hóa của các cuộc cách mạng ở Pháp và Mỹ thì chủ nghĩa tự do mới bắt đầu mở rộng mạnh mẽ quyền bầu cử sang các thành phần dân chúng rộng rãi hơn và từ đó bắt đầu thiết lập ra cái mà chúng ta hiện nay gọi là nền dân chủ tự do. Mục tiêu của dân chủ tự do là cho phép sự tham gia của các bộ phận rộng rãi hơn của người dân với tư cách là người đi bầu và là ứng cử viên tiềm tang (vào các chức vụ trong chính quyền), đồng thời cố gắng tách riêng lĩnh vực công cộng với tư nhân, hạn chế chính quyền để chính quyền không trở thành chuyên chế đối với cá nhân. Như vậy, dân chủ tự do trở thành một nền dân chủ gián tiếp. Do quy mô của các quốc gia dân tộc mới thành lập ngày càng lớn hơn, nên người dân không thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình ở các đại hội công dân giống như eklesia ở Hy Lạp nữa, và vì thế họ cần phải bầu ra các đại diện vào một Nghị viện nhỏ hơn, và Nghị viện đó sẽ đưa ra các quyết định cuối cùng thích hợp.

      DÂN CHỦ TRỰC TIẾP VÀ GIÁN TIẾP – CUỘC LUẬN CHIẾN

      Khi chúng ta nói, các khái niệm dân chủ “kiểu Schumpeter” hiện hành nhấn mạnh bầu cử cạnh tranh vào các chức vụ cầm quyền, thì chúng ta cũng nhận thấy rằng quan điểm này làm “đông cứng” và biến hình thức dân chủ đại diện (gián tiếp) thành một mô hình. Hơn thế nữa, nó còn được tôn lên thành đường bệ, mà Rousseau (cũng như những người bảo vệ dân chủ trực tiếp, nhìn từ một góc độ khác) coi là cái có thể rút ruột chính cốt lõi của dân chủ: đó là bầu ra các “đại diện” tự trị của công dân để thay mặt họ lập pháp. Đối với Rousseau, chủ quyền của nhân dân là không thể chuyển nhượng; chỉ nhân dân trực tiếp thực hiện nó hoặc là nó không tồn tại. Vì thế, ông nhận xét mỉa mai về hệ thống chính trị “tự do” ở Anh ở thế kỷ XVIII như sau:

      Chủ quyền không thể được đại diện vì cùng một lý do mà nó không thể chuyển nhượng […]. Vì thế, đại biểu của nhân dân không phải và không thể là người đại diện của họ, mà chỉ có thể là những người được họ ủy quyền, và như vậy không có đủ tư cách để kết luận bất kỳ thứ gì một cách quyết định. Không một đạo luật nào của họ có thể là luật, nếu nó không được nhân dân trực tiếp phê chuẩn; và không có sự phê chuẩn đó, thì không có gì có thể là luật. Người dân nước Anh tự lừa dối mình, khi họ nghĩ rằng, mình tự do; trên thực tế, họ chỉ tự do trong lúc bầu cử thành viên của nghị viện, vì chỉ ngay sau khi một nghị viên đắc cử, thì người dân lại bị xiềng xích và chẳng là cái gì cả (Rousseau 1947, 85).

      Nói theo biệt ngữ hiện đại, ít ra thì Rousseau cũng đã chấp nhận cái mà chúng ta gọi là sự ủy quyền theo mệnh lệnh (imperative mandate) cho các đại biểu, theo đó các đại biểu chỉ đơn thuần thực hiện những yêu cầu đã được cử tri sắp đặt từ trước. Nhưng ông sẽ không bao giờ chấp nhận quyền tự trị của các đại biểu được bầu ra đó, vì như vậy sẽ là một hình thức chủ quyền có thể chuyển nhượng, mà theo ông thì chủ quyền là không thể chuyển nhượng (3).

      Như vậy, chúng ta thấy rằng, chính các định nghĩa kiểu Schumpeter - biến đại diện lập pháp (với điều kiện tự do) thành đồng nghĩa với dân chủ - mâu thuẫn với một số xu hướng hiện nay về dân chủ “kinh điển” - coi chủ quyền là bắt nguồn trực tiếp từ nhân dân và không tách rời nhân dân trong việc làm luật. Chúng ta cũng thấy rằng, khái niệm dân chủ của người Hy Lạp cổ đại nhấn mạnh việc công dân trực tiếp bỏ phiếu cho các luật của mình ở Đại hội công dân (ekle-sia), còn quyền hành pháp được trao cho một cơ quan tập thể luân phiên của công dân, tức Hội đồng 500 người (boule). Theo mô hình này, dân chủ nên được hiểu theo nghĩa đen là “chính quyền của nhân dân” (“the government of the people”),(4)  như được nêu rõ trong nguyên gốc của từ này. Cần lưu ý là, các định nghĩa kiểu Schum-peter về dân chủ không dễ gì phù hợp với cả nguồn gốc từ ngữ lẫn lịch sử của khái niệm này. Mà trái lại, chúng đi ngược lại với bản chất cốt lõi của mô hình xuất xứ của dân chủ khi chúng (theo Rousseau) tước  đi  chủ  quyền  (tức quyền  tự  cai  trị  hay  lập pháp)  của  nhân  dân  và chuyển nó sang cho một số ít người được chọn ra.

      Những nhận xét này có thể được xem là chút hoài cổ về một quá khứ hoàng kim đã bị quên lãng, mà khi đó, chỉ với quy mô thành bang hạn hẹp, nên dân chủ trực tiếp đã có thể được thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề lại phức tạp hơn thế. Vấn đề trung tâm như sau. Nếu dân chủ thực sự phải là “chính quyền của nhân dân” và chúng ta chấp nhận là không thể thực hiện được dân chủ trực tiếp ở các quốc gia dân tộc có quy mô lớn như hiện nay, thì con đường duy nhất để có nền dân chủ đại diện thực sự sẽ là phải bảo đảm Nghị viện và chính quyền (tức cơ quan được bầu ra) phản ánh chính xác (hoặc rất sát) tỷ lệ ưu tiên của khối người đi bầu. Nếu không thực hiện được điều kiện này, thì chúng ta không có dân chủ, mà nếu có đi nữa, thì là một dạng chính quyền hỗn hợp với những người tiêu biểu nhất. Hơn nữa, thậm chí, nếu Nghị viện phản ánh “nhân dân”, thì trong đời sống thực tế thường phát sinh một vấn đề mà chúng ta có thể gọi là “sự khúc xạ” của nghị viện, tức sự phân rẽ lợi ích giữa người đi bầu và người được bầu sau khi chiến dịch bầu cử kết thúc và hoạt động lập pháp bắt đầu triển khai trên thực tế.

      Những người theo dõi sát chính trường ở các nước khác nhau nhận thấy rằng hiện tượng khúc xạ nói trên quả thực có xuất hiện và thường thì người được bầu lên không phản ánh nguyện vọng (hay thậm chí là lợi ích cơ bản nhất) của những người đã bầu ra họ, khi họ đã yên vị trong “Ngôi nhà của Nhân dân” (“House of the People”). Theo định nghĩa của Schumpeter thì điều này không thành vấn đề, vì ông không đề ra sự ủy quyền theo mệnh lệnh đối với các đại biểu, mà chỉ là tự do tốt nhất cho các chính trị gia được bầu lên để họ thực hiện sự nghiệp của mình theo lương tâm của họ. Cũng như James Madison (1999, 160-167) trong tác phẩm “Văn kiện Liên bang” (Federalist Paper), số 10, Schumpeter cho rằng, một nhóm tinh hoa các nghị viên có năng lực được nhân dân chọn ra từ những lựa chọn tốt nhất sẽ ở vào thế tốt hơn để thảo luận và quyết định các vấn đề chính trị phức tạp so với số đông dân chúng nói chung, mà đa số không có đủ kỹ năng và hiểu biết để giải quyết các vấn đề này một cách tối ưu.

      Nếu trong nền dân chủ kiểu Schumpeter, vai trò chính trị của nhân dân cơ bản là bầu ra (và bãi miễn) một nhóm lãnh đạo tinh hoa, thì chúng ta lại đi đến một tình thế khó xử như sau. Phải chăng việc chuyển trọng tâm của dân chủ từ chỗ tìm ra cách thức tốt nhất để nhân dân tự quản sang chỗ thể chế hóa một phương pháp thiết lập theo cách dung nạp những tinh hoa chính trị tự trị có nghĩa là từ bỏ chính cốt lõi của dân chủ hóa?

      Nỗ lực của Schumpeter nhằm tạo ra một định nghĩa mang tính “mô tả” về dân chủ hiện đại lại vấp phải khó khăn về mặt nhận thức luận. Đó chẳng phải là một sự lặp lại không cần thiết khi định nghĩa dân chủ chỉ đơn thuần bằng mô tả các chế độ được coi là dân chủ hay sao? Làm sao Schumpeter biết được rằng, các chế độ này thực sự dân chủ nếu ông không có một định nghĩa mang tính kinh viện (priori) về dân chủ?

      Những khó khăn đó đại diện cho một nhóm các vấn đề liên quan đến quan điểm của Schumpeter về dân chủ ở phương diện lý thuyết trừu tượng. Tuy nhiên, thậm chí, nếu chúng ta bất chấp các vấn đề này từ quan điểm dân chủ trực tiếp, thì cũng có vấn đề khác liên quan đến quan niệm dân chủ của “những kẻ thừa kế Schumpeter” hiện nay, cụ thể là vấn đề còn tồn đọng về sự tương tác giữa dân chủ chính trị và kinh tế. Và đây là nguyên nhân to lớn dẫn đến sự bất đồng với những người theo chủ nghĩa Mác.

      SỰ PHẢN ĐỐI CỦA PHÁI XHCN

      Thậm chí, nếu không tính đến một số ý kiến được coi là quan trọng đối với những người bảo vệ (theo nghĩa đen nhiều hơn) cho dân chủ trực tiếp (như khó khăn trong việc đạt được tỷ lệ đại diện công bằng cho cử tri trong Nghị viện, sự phân rẽ quan điểm và lập trường giữa người đi bầu và người được bầu trong giai đoạn hậu bầu cử, vấn đề của Rousseau về nhượng chủ quyền, v.v.) thì cũng còn có sự phản đối cơ bản do phái XHCN đặt ra ở thế kỷ XIX mà vẫn chưa được trả lời đầy đủ: đó là, dân chủ chính trị không có dân chủ kinh tế là chưa đủ để xác định một xã hội là hoàn toàn dân chủ.

      Thể hiện mạnh mẽ nhất sự phản đối này là những lời công kích kịch liệt nổi tiếng của V.I. Lênin trong tác phẩm Nhà nước và Cách mạng:

      "Xã hội TBCN, xét trong những điều kiện phát triển thuận lợi nhất của nó, đem lại cho ta một chế độ dân chủ ít nhiều đầy đủ trong chế độ cộng hòa dân chủ. Nhưng chế độ dân chủ ấy bao giờ cũng bị bó trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột TBCN và do đó, thực ra, nó luôn luôn là một chế độ dân chủ đối với một thiểu số, vẫn chỉ là một chế độ dân chủ đối với riêng những giai cấp có của, đối với riêng bọn giàu có mà thôi. Trong xã hội TBCN, tự do vẫn luôn gần giống như tự do trong các nước cộng hòa Hy Lạp thời cổ: một thứ tự do của chủ nô."

      (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr. 106 - 107)

      C. Mác đã nắm bắt được một cách tuyệt vời bản chất cốt lõi này của nền dân chủ TBCN khi phân tích kinh nghiệm Công xã Pari. Ông nói rằng, những người bị áp bức được phép vài năm một lần quyết định những đại diện cụ thể nào của giai cấp bị áp bức nên có mặt trong nghị viện để đại diện cho họ và trấn áp họ.

      Trong đoạn trích trên, V.I. Lênin đã nêu ra một loạt vấn đề phản ánh sự phê phán của phái XHCN về những khiếm khuyết của dân chủ chính trị không có dân chủ kinh tế kèm theo. Làm sao có thể tin được rằng, “lá phiếu” (= quyền đi bầu) của một người dân ở nhà ổ chuột có sức nặng như lá phiếu của người, nói như Ted Turner, nắm giữ phương tiện truyền thông đầy ảnh hưởng? “Mỗi người một phiếu” là nguyên tắc cơ bản của tất cả các định nghĩa dân chủ như đã nói ở trên, nhưng nếu quyền đi bầu thực sự (tức khả năng thực sự “tạo ra” người cầm quyền) của công dân lại khác nhau tùy vào của cải, khả năng tiếp cận hay chi phối các phương tiện truyền thông của họ, thì đó có thể được coi là một nền dân chủ thực sự hay không?

      Vấn đề chi phối phương tiện truyền thông đặc biệt quan trọng, vì khả năng của những người dân nắm giữ các phương tiện truyền thông lớn để gây ảnh hưởng đến toàn thể người dân khác khiến cho “lá phiếu” của họ (tức khả năng thực sự của họ ảnh hưởng tới chính sách) là lớn hơn nhiều so với những người bình thường.

      Tuy nhiên, sự phê phán của phái XHCN đối với dân chủ tư sản còn sâu sắc hơn thế. Họ cho rằng, xã hội tư bản vốn đã là không dân chủ, vì nếu tư liệu sản xuất tập trung trong tay một giai cấp thiểu số mà không được xã hội hóa cho toàn dân, thì các điều kiện không công bằng này cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lĩnh vực chính trị. Phái XHCN đặt câu hỏi tại sao phái dân chủ tư sản lại đòi hỏi sự công bằng chỉ trong lĩnh vực chính trị mà thôi. Lý do vì sao mà không mở rộng sự công bằng sang cả lĩnh vực kinh tế? Các nhà khoa học chính trị theo trường phái tự do giới hạn công bằng dân chủ trong lĩnh vực chính trị, khước từ mở rộng sang lĩnh vực kinh tế. Như hai nhà nghiên cứu về chuyển đổi nổi tiếng O’Donnell and Schitter đã nêu trong một tác phẩm đầy thuyết phục của họ như sau:

    “Đi đến dân chủ chính trị là mục đích cuối cùng (terminus ad quem) trong nỗ lực thấu hiểu của chúng ta, nhưng nó không phải là sự kết thúc của các cuộc chiến giữa hình thức và mục đích của chính trị.          

      […] Theo một ý nghĩa nào đó, thì sự chuyển đổi sang dân chủ chính trị tạo ra khả năng - nhưng hoàn toàn không phải là tất yếu - cho một sự chuyển đổi khác.

      […] Chúng ta đã gọi sự chuyển đổi “thứ hai” này là “xã hội hóa”

     […]. Trong bối cảnh đó, tất cả những gì chúng ta có thể làm là tái khẳng định giả định trước đây của chúng ta rằng, dân chủ chính trị tự nó là một mục tiêu đáng để đạt tới, thậm chí, có phải trả giá bằng cách từ bỏ các con đường lựa chọn khác dường như hứa hẹn đền đáp nhanh hơn và nhiều hơn trên phương diện xã hội hóa (O’Donnell and Schitter 1988, 30-33)”.

     Đoạn trích này có tính chất điển hình, vì nó làm nổi bật tình thế khó xử trước hố sâu ngăn cách giữa hai lập trường nói trên. Đối với phái tự do, dân chủ chính trị là mục đích tự thân, không phụ thuộc vào dân chủ hóa về kinh tế. Mặt khác, các phê phán của phái XHCN/phái mácxít nói rằng, không có dân chủ kinh tế thì dân chủ chính trị tư sản là chưa đầy đủ (6).

      SỰ CHIA RẼ GIỮA PHÁI MÁCXÍT VÀ PHÁI TỰ DO

     Chúng ta đứng ở đâu trong vấn đề này? Hiện giờ chúng ta thấy vấn đề này đang bế tắc: phái tự do không chịu từ bỏ thiên đường an toàn dân chủ chính trị và vươn rộng sang dân chủ kinh tế; phái mácxít cách mạng dừng lại ở dân chủ kinh tế và khước từ đi tới dân chủ chính trị mà không có dân chủ kinh tế.

      Để vượt qua biển cả chia cắt hai lục địa này, tôi đề nghị một chương trình nghiên cứu sau: Liệu có thể đi đến được một “mặt trận liên hiệp” cho lý thuyết về dân chủ? Nói cách khác là, liệu có thể tạo ra được một phương pháp cùng lúc đánh giá (đo lường) được sự tiến bộ (và thụt lùi) trong các lĩnh vực dân chủ chính trị và dân chủ kinh tế hay không?

      Khả năng (hay tính ứng dụng) của một lý thuyết hợp nhất như vậy bị cả phái tự do lẫn phái mácxít bác bỏ. Phái tự do hậu Schum-peter nói rằng, việc bao gồm cả tự do kinh tế sẽ là một nhân tố cực kỳ phức tạp và hết sức chủ quan, sẽ làm phương hại tính súc tích, tính chính xác, tính ứng dụng và tính khách quan đặc trưng của các định nghĩa mang tính thủ tục tối giản hiện nay về dân chủ (Huntington 1991, 9; Mainwaring và cộng sự 2001, 651). Mặt khác, phái mácxít cấp tiến, theo bước Lênin (1943, 71-73), khẳng định rằng, dân chủ tự do “luôn luôn bị giới hạn bởi khuôn khổ hẹp hòi của sự bóc lột TBCN và do đó, trong thực tế, luôn luôn là một nền dân chủ cho thiểu số, chỉ dành cho các giai cấp chiếm hữu” và một chính quyền của nhân dân thực sự chỉ có thể phát triển được trong một xã hội, nơi tư liệu sản xuất được xã hội hóa - vì thế, sẽ chỉ là trò giải trí vô bổ khi đo lường (sự ảo tưởng về) dân chủ chính trị ở các nước TBCN. Như chúng ta thấy, một phái không chấp nhận giới hạn ở mức độ dân chủ kinh tế còn phái kia thì không chấp nhận giới hạn ở mức độ dân chủ chính trị.

      Chúng ta phải thừa nhận rằng, rất khó tìm được một “mặt trận liên hiệp” cho lý thuyết về dân chủ. Các lĩnh vực dân chủ chính trị và dân chủ kinh tế xem ra khác nhau về mặt định lượng đến nỗi, khả năng đạt được một cách đo lường chung có thể trở thành một nhiệm vụ hết sức nặng nề, thậm chí là vô cùng nặng nhọc. Tuy nhiên, nỗ lực này là cần thiết để nghiên cứu một cách khách quan về dân chủ hóa. Lấy trường hợp hai khu vực đang tiến hành dân chủ hóa làm ví dụ, đó là Mỹ Latinh và Đông Âu. Một số nhà nghiên cứu chuyển đổi đã viết một công trình nghiên cứu rất công phu so sánh các nỗ lực dân chủ hóa ở hai khu vực này (Przeworski 1991; Nelson 1994; Greskovits 1998). Nếu trong phân tích về “Phương Nam”, cách tiếp cận tối giản kiểu Schumpeter về dân chủ (tập trung vào mặt chính trị) có thuận lợi là cơ sở kinh tế của khu vực này (CNTB) vẫn như vậy, cả trước và sau khi chuyển đổi (biện minh cho việc tập trung vào phương diện chính trị), thì điều này lại không có đối với “Phương Đông”. Ở các nước XHCN trước đây ở Đông Âu, cơ sở kinh tế thay đổi hoàn toàn ngay từ khi bắt đầu quá trình chuyển đổi (CNXH) cho  đến  khi  kết  thúc (CNTB). Trong trường hợp này, thật khó bỏ qua hệ quả của sự chuyển đổi về mặt kinh tế (tức cũng là đo những thay đổi trong dân chủ kinh tế). Do sự khác nhau về cơ cấu trong phương thức sản xuất ban đầu mà các nước này xuất phát, nên việc đánh giá, so sánh những cái được và mất của người dân ở “Phương Nam” và “Phương Đông” trong quá trình chuyển đổi (và cũng là so sánh giữa CNTB và CNXH nói chung) cần phải có một bước đột phá tổng hợp đánh giá dân chủ chính trị và dân chủ kinh tế. Bước đột phá như vậy có thể cho phép đạt được tiếng nói chung giữa các nhà chính trị học theo chủ nghĩa Mác và không theo chủ nghĩa Mác trong việc phân tích các chuyển đổi ở các nước XHCN trước đây nói chung.

      Bước đi đầu tiên thông thường theo hướng này có thể là bổ sung thêm một mục vào bảng xếp hạng giống như trong bảng xếp hạng của Freedom House (tổ chức đánh giá định lượng trình độ dân chủ chính trị ở các nước trên thế giới). Bên cạnh việc trắc lượng dân chủ chính trị, tôi đề nghị chúng ta trắc lượng cả dân chủ kinh tế (tức trình độ tiếp cận công bằng của người dân đối với tư liệu sản xuất và của cải quốc gia) bằng cách dùng hệ số Gini làm chỉ số ủy thác (proxy) tạm thời7).  Để tránh mắc phải cách dùng một thước đo rắc rối và chủ quan đối với dân chủ kinh tế mà có thể làm giảm tính chính xác, tính giản tiện và tính ứng dụng của nó, thì việc dùng hệ số Gini - hệ số đo lường trình độ công bằng về thu nhập - có thể là một chỉ số ủy thác tạm thời rất tốt, dùng ngay được và có thể cho phép phái mácxít và phái tự do bắt đầu dùng ngôn ngữ số liệu chung như sự khởi đầu khiêm tốn hướng tới sự hiểu biết sâu hơn xung quanh giả thuyết mở rộng việc xếp hạng dân chủ của một Freedom House mới trong tương lai (8).

(Còn nữa)

*ANGELO SEGRILLO (Khoa Lịch sử, Đại học tổng hợp Sao Paulo.

T/c: “Nghiên cứu khoa học chính trị Braxin”, tập 6, số 2/2012.)

Chú thích:

1) Như nhận xét của O’Donnel (1999, 484), định nghĩa của Schumpeter về dân chủ không tối giản như mới thoạt nhìn. Tính từ so sánh (comparative) có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu phương pháp dân chủ cơ bản là đấu tranh bằng cạnh tranh cho quyền bầu cử của người dân thì, để cuộc đấu tranh này được tiến hành một cách hợp thức, cần phải có một loạt các điều kiện tiên quyết. Trong số đó, chính Schumpeter (1984, 338, 341) đã nêu là quyền tự do báo chí và ngôn luận, mà nếu không có nó, thì không thể có “tự do cạnh tranh giành quyền bầu cử tự do”.

2) Trường hợp ngoại lệ là, mười vị tướng được bầu ra hàng năm để chỉ huy quân đội và hải quân. Họ có thể được bầu lại vô thời hạn. Ví dụ, Pericals đã được bầu lại thêm 30 năm (Briton và cộng sự, 1965, 26-27).

3) Mặc dù ông không nêu vấn đề bằng những thuật ngữ này, nhưng điều quan trọng là phải thấy rằng, Rousseau không đặc biệt ủng hộ dân chủ trực tiếp trong nhánh hành pháp của chính quyền. Theo quan điểm của ông, chủ quyền, tức quyền tự quản lý bản thân mình (lập pháp), là để chỉ nhánh lập pháp. Các luật phải được phê chuẩn trực tiếp bởi nhân dân. Còn quyền hành pháp, tức phương diện mang tính kỹ thật và hình thức nhiều hơn của việc đơn thuần thực thi các luật này (nguyện vọng) của nhân dân, thì có thể giao phó cho một số người sẽ thực hiện một cách trung thực. Ở đây có sự giống nhau nhất định với thời kỳ hậu độc lập của Hoa Kỳ, nơi một số trong những vị Cha đẻ của nước Mỹ có tư tưởng rằng, nhánh lập pháp của chính quyền sẽ là một cơ quan có quyền lực, còn nhánh hành pháp chỉ là “thực thi” mệnh lệnh (luật) của Quốc hội.

4) Nhân dân được hiểu là các công dân.

5) Câu hỏi liệu có thể thực hiện được dân chủ trực tiếp ở các quốc gia dân tộc quy mô lớn hiện nay hay không còn gây tranh cãi. Người ta thường chỉ ra rằng, một khi máy tính cá nhân ở gia đình (hay ít nhất là sự tiếp cận với máy tính) trở nên toàn cầu hóa (như đài phát thanh và vô tuyến truyền hình trước đây), thì những khó khăn về mặt kỹ thuật trong việc tổ chức bầu cử trên toàn quốc bằng máy tính thực sự không phải là vấn đề lớn. Nếu Braxin (một nước thuộc “thế giới thứ ba”) có thể tiến hành bầu cử hoàn toàn bằng máy tính cho các chức vụ hành pháp và lập pháp (với thông báo kết quả sớm nhất) hai năm một lần thì tại sao lại không thể tổ chức cho nhân dân trên toàn cầu bầu cử hay phê chuẩn luật bốn tháng hay sáu tháng một lần? Điều quan trọng nữa ở đây là phải thấy rằng tháng 3/2007 Extônia đã trở thành nước đầu tiên trên thế giới cho phép bỏ phiếu bầu cử qua In-ternet trong một cuộc bầu cử cấp quốc gia.

6) Khi những lập luận về khó khăn kỹ thuật đối với dân chủ trực tiếp dường như giảm dần, vì có thể bỏ phiếu bầu cử điện tử, chúng tôi lại đối mặt với bằng chứng là các cản trở chủ yếu đối với dân chủ trực tiếp không phải mang tính chất kỹ thuật, mà là mang tính chất chính trị, như James Madison đã trình bày chi tiết trong tác phẩm Văn kiện Liên bang, số 10 (Federalist Paper No.10) (đáp lại một số lập luận phản đối dân chủ do Aristotle and Plato nêu ra).

7) Ý kiến đánh giá nổi tiếng của Norberto Bobbio (1983, 33-34): “Nếu kinh nghiệm lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng cho đến nay không có chế độ XHCN nào được tạo nên bằng các biện pháp phi dân chủ (tức bằng cách mạng hay xâm chiếm) có thể trở thành dân chủ, thì nó cũng cho thấy rằng các chế độ TBCN không thể trở thành XHCN một cách dân chủ […]. Ở các nước TBCN, phương pháp dân chủ, thậm chí ở hình thức tốt nhất của nó, cũng chặn đường đi đến CNXH; ở các nướcXHCN, sự tập trung quyền lực bởi một trung tâm thống nhất kiểm soát nền kinh tế khiến cho việc áp dụng phương pháp dân chủ hết sức khó khăn”.

8) Xét về mặt thu nhập, sự bất bình đẳng kinh tế được đo bằng hệ số Gini. Hệ số Gini biến thiên từ 0 (tức hoàn toàn bình đẳng) đến 1 (tức một người chiếm giữ toàn bộ của cải của cả nước). Trước đây, hệ số Gini biến thiên từ khoảng 0,2 ở các nước XHCN quân bình hơn ở Đông Âu trước cải tổ (chẳng hạn Tiệp Khắc, Hungary) đến 0,6 ở các nước hết sức không quân bình, như Braxin và Goatêmala. Mức trung bình của các nước OECD là khoảng 0,3 (Ngân hang Thế giới 2002; Cloutier 2007).

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Các thành phố thông minh ở Châu Âu - Tác giả: Andrea Caragliu, Chiara Del Bo & Peter Nijkamp - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Trần Minh Hoàng

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính Vũ Xuân Bình

- Quản trị văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo ở Singapore - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Nguyễn Thanh Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 2) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà, Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 1) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung