Các nhóm lợi ích trong tiến trình cải cách chính trị - xã hội - Tác giả: A.V.POPOV

14/08/2015 09:20


CÁC NHÓM LỢI ÍCH TRONG TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH

CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

A.V. POPOV

Biên dịch: Vũ Thị Xuân Mai

Theo thông tin Những vấn đề Lý luận

Số tháng 3 năm 2014


      “Bài viết đi sâu phân tích luận giải quan điểm của một số tác giả đề cập đến cách tiếp cận nhóm phân tích các cuộc cải biến xã hội - chính trị ở các nước hậu CSCN trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi. Thông qua sự phân tích đó, tác giả nêu rõ quan điểm của mình để làm sáng tỏ hơn vấn đề trên”.

      Trong vài thập niên gần đây, do những biến đổi liên tục về tất cả các lĩnh vực ở các nước thế giới thứ ba và các quốc gia thuộc hệ thống XHCN cũ mà việc nghiên cứu các vấn đề về những thay đổi thể chế từ hình thức quản lý mang tính cực quyền sang hình thức quản lý mang tính dân chủ và từ mô hình kinh tế có điều tiết sang mô hình kinh tế thị trường chiếm một trong những vị trí trung tâm trong các khoa học xã hội. Trong đó, các cách tiếp cận mang tính mục đích luận và mang tính quy trình học gắn với việc làm rõ lôgíc đã định và xác định những hành động cần thiết trong các cải cách chiếm vị trí chủ đạo. Do đó, các nhà khoa học quan tâm đến rất nhiều vấn đề khác nhau: Lý luận và phương pháp luận của các cải cách thị trường (M. Friedman, G. Saks, A. oslund, L. Balserovich); Các tiền đề và các giai đoạn của dân chủ hóa (A. Pshevorskii, S. Fisher, L. Armikho, T. Bersteker, A. Lovental); Các quy trình lật đổ các chế độ cực quyền (G. Sharp); Các chiến lược phối hợp hành động trong giới tinh hoa (G. Higli, r. Hunter, M. Barton); Thiết kế tối ưu các định chế chính trị (A. Leiphart, J. Linz, D. gorovis); Các quan hệ giữa chính quyền với xã hội công dân (Ph. Schmitter, H-I Lawt, V. Merkel); Bản chất và lôgíc hoạt động của các chế độ hỗn hợp (G. o'Donnell, F. Zakarija, T. Karozers); Những vấn đề củng cố và đoàn kết các nền dân chủ mới (L. Daymond, S. Huggard, R. Kaufman. A. Shedler).... Tuy nhiên, trong tất cả các nghiên cứu đó, phương pháp luận của lý luận các nhóm lợi ích, cho dù có rất nhiều giá trị khoa học, nhưng lại chỉ được áp dụng rất hạn chế. Bài viết của J. Hellman "Những người chiến thắng nhận được tất cả. Chính sách của các cuộc cải cách từng bộ phận ở các nước hậu CSCN" đã trở thành công trình đặt nền móng, mà ở đó có sử dụng cách tiếp cận nhóm để phân tích các cuộc cải biến xã hội - chính trị). Những đặc thù của các cuộc cải cách thị trường trong bài viết này được luận giải từ giác độ những đặc thù của việc chính phủ chống lại áp lực từ phía các nhà kinh doanh - những người trong cuộc mà áp lực đó nhằm ổn định việc thu lợi trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi. Cần phải lưu ý rằng, những nghiên cứu kinh điển về cải cách thị trường ở các nước hậu CSCN) chủ yếu xuất phát từ việc phân tích các chi phí và các khoản lợi thu được từ các cuộc cải cách đối với xã hội nói chung (đường cong J): những nghiên cứu đó chỉ ra rằng, trong triển vọng ngắn hạn, các cuộc cải cách kinh tế đoi hỏi các chi phí cho sự cải biến (giảm mức tiêu dùng), và sau đó, mới bắt đầu đưa lại những khoản lợi (tăng mức tiêu dùng) nhờ sự khởi động quý giá của các cơ chế của nền kinh tế thị trường. Tính chất và tiến trình của các cải biến kinh tế gắn liền với chiến lược đã được lựa chọn của cải cách: phương án cấp tiến dự định ban đầu là giảm nhanh và giảm đáng kể đường tiêu dùng (R), sau đó sẽ khôi phục nó một cách cũng nhanh như thế, trong khi đó, chiến lược cải cách từng bước một lại muốn giảm đường tiêu dùng (G) một cách chậm chạp và mức giảm thấp hơn mức của chiến lược cấp tiến và việc khôi phục nó cũng ở mức chậm chạp như thế (Xem Biểu đồ 1). Đồng thời, có ý kiến cho rằng, bởi vì các chi phí phát sinh từ các cuộc cải cách tập trung ở những nhóm người cụ thể (các cựu quan chức, công nhân viên các doanh nghiệp nhà nước...), còn các khoản lợi - ý muốn nói đến chất lượng của các của cải xã hội - được phân bố rộng rãi trong xã hội (lạm phát thấp, mức cung hàng hóa nhiều hơn…) cho nên việc bảo vệ chính phủ trước sức ép về tính hiệu quả từ phía những người bị thất bại khi mà các khoản lợi từ những cuộc cải cách vẫn chưa tạo ra được cơ sở chính trị đủ vững chắc cho việc ủng hộ chúng là tiền đề tối quan trọng để các cuộc cải cách thị trường thành công. Trong bài viết của Hellman, tất cả các định đề nêu trên đều bị bác bỏ một cách triệt để. Trước hết, khi so sánh các kết quả của các phương án cải cách khác nhau dựa trên số liệu thống kê quốc tế, J. Hellman đã chứng minh tính sai lầm của sự khác biệt thường được chỉ ra trước kia giữa mô hình cấp tiến và mô hình dần dần: ông chỉ ra rằng, các chương trình cải cách toàn diện nhất lại có mức chi phí cho thời kỳ chuyển đổi thấp hơn các chi phí của các cuộc cải cách có tốc độ vừa phải hoặc chậm chạp (xem đường cong R’ ở hình vẽ 1).


      Ngoài ra, nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong một thời gian ngắn, các khoản chi phí cho cải cách sẽ nhanh chóng được phân bổ cho toàn xã hội, còn các khoản lợi sẽ tập trung trong tay một nhóm nhỏ mà sức ép từ những người này, chứ hoàn toàn không phải là sự phản đối từ những người bị thất bại, sẽ trở thành cản trở chính đối với các cải cách kinh tế ở các xã hội đang chuyển đổi. Bản chất của vấn đề là ở chỗ, các cuộc cải cách thị trường bao gồm nhiều thành tố riêng biệt (tự do hóa, tư nhân hóa, bình ổn…) và sự gián đoạn về thời gian giữa chúng tạo nên các cơ hội để thu được khoản lợi không thường xuyên bằng cách thực hiện các nghiệp vụ trọng tài giữa các khu vực kinh tế được cuộc cải cách thu hút vào và các khu vực kinh tế không được cuộc cải cách thu hút vào. Ví dụ, việc tự do hóa ngoại thương kết hợp với điều tiết giá cả trong nước sẽ mang đến những khoản lợi khổng lồ cho các nhà xuất khẩu, việc tự do lập giá trong bối cảnh độc quyền về cơ cấu (đã được hình thành trong lịch sử) mang lại những khoản lợi nhuận không chính đáng cho các nhà sản xuất, việc xác lập sự tự chủ kinh tế của các doanh nghiệp nhưng không có sự cải cách các cơ chế tiền tệ - tín dụng cho phép các giám đốc đưa những khoản tín dụng ưu đãi của nhà nước đến các thị trường tiền tệ ngắn hạn với những mức lãi suất cao, v.v. Việc thực hiện các hành động như vậy, và kết quả của nó - nhận được các khoản thu nhập phi thị trường cao - chỉ có thể được thực hiện bởi một nhóm nhỏ các nhà kinh doanh là những người trong cuộc có quan hệ với nhà nước (các giám đốc, các chủ ngân hàng, các quan chức vùng v.v), trong khi đó, các chi phí phát sinh từ các cuộc cải cách được phân bổ tương đối đồng đều cho tất cả các tầng lớp xã hội. Thêm vào đó, có sự phụ thuộc rõ rệt giữa mức độ các chi phí xã hội, khối lượng khoản lợi không thường xuyên và tính chất của các cải cách kinh tế. Đường cong tiêu dùng của những người chiến thắng (W) và đường cong tiêu dùng của những người bị thất bại (L) trong diễn tiến giai đoạn thứ nhất của các cuộc cải cách trái ngược hẳn nhau, bởi vì các khoản thu nhập thêm từ khoản lợi do sự biến dạng kinh tế mang lại sẽ tất yếu dẫn đến việc tăng các chi phí đối với xã hội nói chung. Cùng với việc giảm các biến dạng của chế độ kinh tế nhờ sự phát triển của các cuộc cải cách thị trường mà khoản lợi không thường xuyên được phát tán dần dần, những người bị thất bại nhận được lợi nhuận của mình từ hoạt động có hiệu quả của các định chế thị trường và khoảng cách giữa đường cong tiêu dùng của những người chiến thắng và đường cong tiêu dùng của những người bị thất bại đang dần được thu hẹp. Tiến trình này mang tính chất chung, tuy nhiên, bản thân hình dạng của các đường cong nêu trên bị quy định trực tiếp bởi tính chất của các cuộc cải cách kinh tế: khác với các nước thực hiện chính sách cải cách từng bước một (xem các đường cong WG và LG ở hình vẽ 1), ở các quốc gia đang tiến hành các cuộc cải cách cấp tiến, toàn diện, khoảng cách giữa đường cong thu nhập của những người chiến thắng và của những người bị thất bại khá cao (xem các đường cong WR và LR ở hình vẽ 1)bởi vì các cuộc cải cách từng bước một tạo nên nhiều cơ hội hơn rất nhiều (so với các cuộc cải cách cấp tiến) để thu được khoản lợi thoáng qua và đó chính là lý do vì sao dạng cải cách này đoi hỏi phải mất nhiều chi phí của xã hội. Do đó, quan điểm chiến lược của những người được hưởng lợi ở giai đoạn đầu của các cải cách thị trường là nỗ lực dựa vào tất cả các nguồn lực đáng kể mà họ có để thúc đẩy kinh tế ở phần cải cách từng phần, định vị các biến dạng kinh tế đang mang lại cho họ khoản lợi và đẩy các khoản chi phí cao cho phần còn lại của xã hội. Trong trường hợp nếu các nhóm này ép được chính phủ phải theo đường lối của họ thì các cuộc cải cách sẽ bị kéo dài, còn mức độ khoản lợi thoáng qua cũng như các chi phí của xã hội cho cải cách sẽ tăng tối đa. Còn trong trường hợp nếu chính phủ không để ý đến sức ép từ các nhà kinh doanh - những người trong cuộc (họ đòi thu được các khoản thu nhập phi thị trường) mà vẫn tiến hành các cuộc cải cách toàn diện thì các biến thể kinh tế - nguồn tạo nên khoản lợi nêu trên - được chỉnh sửa khá nhanh và điều đó tạo ra các điều kiện cho sự hoạt động có hiệu quả của các thể chế thị trường). Dựa vào các luận cứ nêu trên, J. Hellman đi đến kết luận rằng, không phải việc bảo vệ nhà nước trước sức ép từ những người bị thất bại, mà chính là khả năng của nhà nước trong việc chống lại tác động công hiệu của các nhà kinh doanh - những người trong cuộc bị thất bại trong các cuộc cải cách, họ muốn tìm kiếm khoản lợi và quan tâm đến việc duy trì sự mất cân đối kinh tế của thời kỳ chuyển đổi - là điều kiện tối quan trọng để các cuộc cải cách thị trường trở nên có hiệu quả. Ông cho rằng, không hẳn là mô hình cải cách mang tính cực quyền mà chủ yếu là việc mở rộng sự tham gia chính trị và mở rộng cạnh tranh (trong đó có việc tích cực thu hút những nhóm người bị thất bại vào các tiến trình đưa ra đường lối chính trị) - những việc này làm giảm các thu nhập không thường xuyên và ngăn cản các nhà kinh doanh - những người trong cuộc kìm hãm nền kinh tế ở trạng thái các cuộc cải cách từng bộ phận - là chìa khóa để đạt được kết quả nêu trên). Cần phải nói rằng, quan niệm của J. Hellman là một khám phá lớn đối với việc nghiên cứu các xã hội đang ở trạng thái chuyển đổi kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, các luận điểm của quan niệm này chủ yếu chỉ hướng vào phân tích phương diện kinh tế ở các giai đoạn đầu của các cuộc cải cách. Trong trường hợp diễn giải các tư tưởng của J. Hellman trong khung khổ bối cảnh rộng hơn của toàn bộ những vấn đề cải cách, chúng ta có thể thu được những kết luận khá thú vị về tiến trình và tính quy luật của các quá trình chuyển đổi hiện nay. Trước hết, quan niệm nói trên xem xét đến khoản lợi trong bối cảnh các cuộc chuyển đổi kép hậu CNCS: đó là các chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường và từ nền chuyên chế sang nền dân chủ. Nhưng, về nguyên tắc, ngay cả việc cải cách các chế độ cực quyền bình thường cũng đòi hỏi phải có sự cải cách nhất định về cơ cấu kinh tế bởi vì phần lớn các chế độ này mang tính bè phái và dựa trên cơ sở sự đan kết quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị. Sự sụp đổ của các chế độ cực quyền đó cũng có nghĩa là sự xóa bỏ mô hình đặc biệt - mô hình “chủ nghĩa tư bản thân thiện” (crony capitalism) - cùng với việc xóa bỏ các ưu đãi trước kia, những đặc quyền, những khoản phụ cấp, sự độc quyền... - và đến lượt mình, điều đó đang sinh ra khoản lợi thoáng qua mà chính các giới tinh hoa đại diện cho quyền lực chính trị mới gần như luôn là những người được hưởng khoản lợi đó. Tiếp theo, quan niệm của J. Hellman tập trung chú ý vào hoạt động mang tính phá hoại của các nhà kinh doanh - những người trong cuộc dưới góc độ giảm thiểu các chi phí của xã hội - đó là hoạt động nhằm kéo dài các cuộc cải cách để duy trì lâu dài tối đa những biến dạng cơ cấu kinh tế mang lại khoản lợi. Hiển nhiên là, hoạt động này có vai trò và tác động quan trọng đến các quá trình cải cách. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, bản chất của vấn đề là ở chỗ những người được hưởng khoản lợi muốn chuyển khoản lợi không thường xuyên thành khoản lợi thường xuyên. Vấn đề là, cho dù các chiến lược phối hợp hành động của các nhóm là như thế nào, sau một thời gian ngắn, khoản lợi không thường xuyên chắc chắn sẽ không còn. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian ngắn đó, khoản lợi tạo ra cho các nhóm được hưởng lợi ưu thế khá lớn về nguồn lực và họ có thể tận dụng ưu thế cho việc củng cố lâu dài sự thống trị xã hội - chính trị của mình trong các định chế chính trị - luật pháp mới. Như vậy, vấn đề chung của tất cả các cuộc chuyển đổi là, những người được hưởng lợi từ các cuộc cải cách muốn củng cố sự thống trị xã hội - chính trị của mình nhờ vào những biến dạng của các định chế thị trường và dân chủ đang được hình thành. Như vậy, trong phần lớn các trường hợp, đây chính là lý do giải thích vì sao trong khung khổ của làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba vẫn còn có những bước lùi quay trở lại các hình thức cai quản cực quyền, cũng như giải thích cho sự củng cố các chế độ bán dân chủ. Từ đó, có cơ sở để khẳng định rằng, mối nguy hiểm chính đối với dân chủ hóa không phải ở hành động của những lực lượng muốn phục thù mà là ở sự liên kết của “những người chiến thắng” chống lại phần còn lại của xã hội. Quan điểm này cho phép tư duy theo cách mới về sự phân nhánh giữa dân chủ và cai quản. Trong phạm vi những vấn đề mà chúng ta quan tâm, sự phân định giới hạn này được xem xét từ hai giác độ có liên quan với nhau. Thứ nhất, từ giác độ thừa nhận ý nghĩa của những vấn đề về cai quản và sự không có khả năng tồn tại của nền dân chủ nếu không có một bộ máy nhà nước công hiệu. Về vấn đề này, S. Huntington đa viết rằng, “khác biệt chính trị quan trọng nhất giữa các quốc gia không phải là ở hình thức cai quản mà là ở trình độ quản lý”, ông cũng nhấn mạnh rằng, sự khác biệt giữa một chế độ và tình trạng vô chính phủ “mang tính chất nền tảng nhiều hơn so với khác biệt giữa nền dân chủ và nền chuyên chế”); J. Linz và A. Stepan thì khẳng định rằng “không có nhà nước thì không thể có nền dân chủ hiện đại”); Ch. Tilli thì chỉ ra rằng, nền dân chủ không thể hoạt động “nếu nhà nước không có khả năng giám sát tiến trình dân chủ trong việc đưa ra các quyết sách và đưa chúng vào cuộc sống”). Thứ hai, sự phân nhánh này được phân tích dưới giác độ làm rõ những tiền đề hình thành và củng cố các nền dân chủ mới mà những tiền đề đó gắn với sự quản lý của nhà nước: về vấn đề này, R. Dal đa nói đến việc những quan chức được bầu lên phải thực hiện sự giám sát quân đội và cảnh sát); T. Karozers thì viết rằng, chỉ có thể bước vào con đường phát triển bền vững và đa nguyên về chính trị khi nhà nước “có chí ít là các năng lực hoạt động tối thiểu và một cái gì đó giống như sự độc quyền về bạo lực”); L. Daymond khẳng định rằng, có “mức độ hiệu quả tối thiểu của quản lý” là một trong những điều kiện củng cố nền dân chủ”). Hiển nhiên, những nhận định nêu trên là đúng, tuy nhiên, vấn đề là, thành tựu phải tìm của hiệu quả quản lý của nhà nước không phải là một vấn đề thuần túy kỹ thuật mà bị quy định bởi sự trấn áp và khuất phục các nhóm lợi ích có thế lực, buộc các nhóm này phải tuân thủ các quy tắc chung. Vấn đề là ở chỗ, cùng với sự sụp đổ của các cơ chế quyền lực độc quyền, sự tan rã của các thể chế nhà nước cũng diễn ra. Các nhóm quan liêu và đầu sỏ được giải phóng khỏi sự giám sát mang tính cực quyền ngặt nghèo bắt đầu tích cực sử dụng sức mạnh của quyền lực cưỡng chế của nhà nước để thực hiện những lợi ích cá nhân của mình. “Sự cướp nhà nước” như thế thường hay đi cùng với các quá trình dân chủ hóa. Do đó, khi nắm quyền, chính phủ dân chủ thường đứng trước một thực tế là thành lập bộ máy nhà nước mới. Đồng thời, có một mối nguy hiểm lớn ở chỗ: các nhóm lợi ích độc quyền nêu trên sau khi được giải phóng khỏi sự giám sát của chế độ cực quyền nhưng chưa được đặt dưới sự giám sát hữu hiệu của các định chế dân chủ, rất có thể sẽ gạt những người ủng hộ cải cách ra khỏi chính quyền, công khai hoặc ngấm ngầm (tác động không chính thức) ép xã hội phải nhận sự cai quản xã hội - chính trị của mình. Như vậy, có thể kết luận rằng, thành công của các cuộc cải cách dân chủ, trước hết là ở phương diện cố kết chế độ dân chủ, phụ thuộc căn bản vào khả năng của chính quyền mới trong việc xây dựng một hệ thống quản lý nhà nước hữu hiệu, và, đến lượt mình, việc hạn chế một cách hữu hiệu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích quan lieu và đầu sỏ là tiền đề tối quan trọng để xây dựng được hệ thống đó. Do đó, quan niệm tân bảo thủ về nhà nước mạnh - tức là nhà nước đó có mức tự chủ cao so với xã hội công dân, thu hẹp tối đa phạm vi hoạt động của mình mà sự thu hẹp đó cản trở chính sách phân phối lại có lợi cho những nhóm nhất định - là chiến lược tốt nhất cho các cuộc cải cách kinh tế và xây dựng các nền dân chủ ở các nước đang chuyển đổi.

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Các thành phố thông minh ở Châu Âu - Tác giả: Andrea Caragliu, Chiara Del Bo & Peter Nijkamp - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Trần Minh Hoàng

- Các yếu tố quyết định thành công cho hợp tác công – tư trong phát triển cơ sở hạ tầng (phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính Vũ Xuân Bình

- Quản trị văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo ở Singapore - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà – Hiệu đính: Nguyễn Thanh Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 2) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Chiến lược chính phủ điện tử tại các nước phát triển và đang phát triển: Khung thực hiện và trường hợp thực tiễn (Phần 1) - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Vũ Xuân Bình

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 2) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà, Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung

- Giao thông đô thị bền vững: Bốn khía cạnh đổi mới (Phần 1) - Tác giả: Todd Goldman & Roger Gorham - Biên dịch: Nguyễn Thị Ngọc Hà - Hiệu đính: Hồ Thị Tuyết Nhung