Tư duy quản lý trong 50 năm tới

21/12/2015 09:10

TƯ DUY QUẢN LÝ TRONG 50 NĂM TỚI*

RICHARD DOBBS  Giám đốc cấp cao Viện Nghiên cứu toàn cầu McKinsey

SREE  RAMASWAMY  Nghiên cứu viên cao cấp

ELIZABETH  STEPHENSON  Giám đốc chi nhánh McKinsey miền Nam California

S.PATRICK VIGUERIE  Giám đốc cấp cao chi nhánh Atlanta

 

     Tư duy quản lý bắt nguồn từ sự đúc kết của thời gian. Năm 1964, khi Tạp chí McKinsey Quarterly ra đời, tư duy quản lý hoàn toàn mới bắt đầu hình thành. Ngày 7-4-1964, IBM đã giới thiệu một mẫu sản phẩm có khả năng hoạt động rất linh hoạt - máy chủ cỡ lớn hệ System/360. Ngày 10-10- 1964, Lễ khai mạc Thế vận hội Tokyo được phát sóng trên toàn thế giới thông qua vệ tinh truyền hình, mở ra tiền lệ trong lịch sử, từ đó trở đi chúng ta được chứng kiến nền kinh tế ngày một hùng mạnh của Nhật Bản. Ngày 31- 12-1964, đứa trẻ cuối cùng của thời kỳ bùng nổ dân số ra đời.

     50 năm sau đó, sức mạnh được đại diện bởi 3 sự kiện như thể chẳng liên quan đến nhau kể trên ngỡ như không có gì đáng nói. Công nghệ và internet đang khuynh đảo tất cả các lĩnh vực và thay đổi cuộc sống của hàng tỷ người. Trọng tâm kinh tế không thể cưỡng lại việc chuyển dịch từ Phương Tây sang Phương Đông, nền kinh tế tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc trở thành tiêu điểm thế giới. Thế hệ trẻ sơ sinh trong thời kỳ bùng nổ dân số nay đang bước vào giai đoạn tuổi già, tận hưởng cuộc sống hưu trí. Người ta thảo luận ngày càng nhiều việc làm thế nào để dân số kéo theo sự phát triển kinh tế chứ không phải vấn đề lợi thế dân số.

     Ngày nay, chúng ta đang đứng trên đầu ngọn sóng của sự biến đổi trên mọi lĩnh vực, điều này mang lại rất nhiều gợi mở quan trọng cho lãnh đạo toàn cầu. Trong vài năm tới, sự phát triển nhanh chóng của phạm vi, quy mô và ảnh hưởng kinh tế sẽ dẫn dắt trí tuệ nhân tạo, các sản phẩm công nghệ nhanh chóng, kịp thời tiến vào thời đại mới với thông tin phong phú; đồng thời, thông qua những phương thức vượt xa trí tưởng tượng để xây dựng lại môi trường thương mại. Bên cạnh đó, hoạt động và sức sống của nền kinh tế dịch chuyển theo hướng thị trường mới nổi và các thành phố lớn của thị trường mới nổi sẽ thúc đẩy sự ra đời những đối thủ cạnh tranh toàn cầu mới. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế như vũ bão của thị trường mới nổi, dân số toàn cầu cũng nhanh chóng già hóa (lúc đầu xuất hiện ở các nước Phương Tây, sau đó lan sang các quốc gia mới nổi), từ đó tạo áp lực lớn đối với tăng trưởng kinh tế.

     Bất cứ một biến số nào kể trên đều đủ để cấu thành động lực lớn chưa từng có, thúc đẩy kinh tế toàn cầu. Trong khi ngày nay sự “gặp gỡ” của các nhân tố sẽ dẫn tới biến đổi lớn hơn, đa số tư duy quản lý từng giúp doanh nghiệp thành công trong quá khứ sẽ vô hiệu trước sự biến đổi này, vì cho đến nay rất nhiều kinh nghiệm quản lý cấp cao được đúc kết từ trước cuộc biến đổi. Sự gián đoạn và biến động của thế giới tương lai sẽ liên tục xuất hiện, xu hướng dài hạn sẽ không còn là đường cong hướng đến ổn định, tư duy lâu nay sẽ không còn hiệu quả, mô hình thương mại tưởng như thành công sẽ bị phá vỡ. Bài viết tổng hợp kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của Viện Nghiên cứu toàn cầu McKinsey về tư vấn chiến lược, cố gắng vạch ra một lộ trình phát triển tương lai, phân tích những chỗ khác nhau so với lộ trình phát triển của trước kia, phân tích ý nghĩa của sự khác biệt này trong việc hoạch định kế hoạch tương lai của lãnh đạo toàn cầu.

     Hợp lực

     Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu sơ bộ một vài loại nguồn lực. Nhưng dù khảo sát một loại đơn giản nhất, trong đó bao gồm sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường mới nổi, công nghệ mang tính đột phá, hay sự già hóa dân số) cũng đủ để giúp chúng ta hình dung ra quy mô sự biến đổi đang diễn ra to lớn cỡ nào.

     Sức sống của thị trường mới nổi

     Các quốc gia mới nổi đang cùng lúc trải qua cách mạng công nghiệp và thành thị như đã từng diễn ra ở Anh trong thế kỷ XVIII và ở các nước phát triển đương đại trong thế kỷ XIX. Năm 2009, sự đóng góp của thị trường mới nổi đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu lần đầu tiên vượt qua những thị trường phát triển trong hơn 200 năm qua. Dự kiến đến năm 2025, trải qua 15 năm, thị trường mới nổi sẽ trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu của thế giới, Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ hoặc Châu Âu, trở thành nơi có nhiều doanh nghiệp lớn nhất, khi đó trong bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp hùng mạnh trên thế giới sẽ có hơn 45% doanh nghiệp quốc tế lớn đến từ thị trường mới nổi, trong khi năm 2000 có chưa đến 5%.

     Đây không phải là lần đầu tiên “cơn bão” thị trường mới nổi “quét” qua toàn cầu. Trong thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, sự trỗi dậy thần tốc của các doanh nghiệp Nhật Bản làm cho các công ty lâu đời của Mỹ và Châu Âu trở tay không kịp, tiêu chuẩn mới về năng lực sản xuất và sự đổi mới của các doanh nghiệp Nhật Bản khiến các doanh nghiệp không kịp đuổi theo. Những năm gần đây, sự trỗi dậy của các doanh nghiệp Hàn Quốc như Hyundai và Samsung, cũng khiến cho bảng xếp hạng toàn cầu về các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao từ ngành ôtô đến các sản phẩm điện tử cá nhân có sự biến đổi lớn. Không giống với trước kia, đối thủ cạnh tranh mới hiện nay đến từ nhiều quốc gia trên toàn thế giới, đồng thời số lượng cũng vượt xa số lượng doanh nghiệp trỗi dậy mấy chục năm trước của Nhật Bản và Hàn Quốc. Sự xuất hiện của hàng loạt đối thủ cạnh tranh mới sẽ khiến một bộ phận những công ty xuyên quốc gia lâu đời gặp khó khăn. Trọng tâm kinh tế toàn cầu chuyển dịch theo hướng thị trường mới nổi, trong đó lần đầu tiên những thị trường này sẽ xuất hiện gần 2 tỷ người tiêu dùng cùng doanh nghiệp có thực lực mới nổi, các doanh nghiệp sẽ dùng địa vị vững chắc của thị trường bản địa làm hậu thuẫn để tiến hành mở rộng ra toàn cầu.

     Quỹ đạo hoạt động kinh tế của những thị trường này cũng có sự biến đổi, đặc biệt là Trung Quốc (xem Hình 1). Dân số thị trường toàn cầu tăng 65 triệu người/năm, trong đó từ năm 2010 đến năm 2025, gần một nửa tăng trưởng GDP toàn cầu đến từ 440 thành phố của thị trường mới nổi. 95% những thành phố này chưa được các nhà quản lý cấp cao biết đến hoặc đó là các thành phố nhỏ và khó tìm thấy trên bản đồ, tất nhiên không phải các đô thị lớn như Bombay, Dubai hay Thượng Hải, mà là Thiên Tân (Trung Quốc), Porto Alegre (Brazil), Kumasi (Ghana) và các thành phố không nổi tiếng khác. Hsinchu (ở phía Bắc Đài Loan) đã trở thành trung tâm lớn về thiết bị điện tử tiên tiến và công nghệ cao. Tại Brazil, Santa Catarina (nằm giữa biên giới Sao Paulo và Uruguay) đã trở thành trung tâm sản xuất điện tử và ôtô của khu vực, bao gồm nhiều công ty sở hữu cả WEG Industrias có giá trị hàng tỷ đôla Mỹ.

Hình 1: Một số thành phố không mấy tên tuổi trong quá khứ đang trở thành bộ phận đáng kể tham dự vào nền kinh tế của thị trường mới nổi (đặc biệt là Trung Quốc)

Nguồn: Những phân tích của Viện Nghiên cứu toàn cầu McKinsey

     Công nghệ và internet

     Từ cơ giới hóa trong cách mạng công nghiệp cho đến cách mạng máy tính như ngày nay, đổi mới công nghệ luôn hỗ trợ cho sự biến đổi kinh tế, làm thay đổi phương thức sinh hoạt và lao động của con người. Nhưng tình hình lần này không giống trong quá khứ vì “toàn bộ bàn cờ đã đi hết một nửa”. Câu trích này từ câu chuyện về người phát minh ra cờ vua và vị quốc vương mà Ray Kurzweil, nhà tương lai học, Giám đốc kỹ thuật của Google đã nói. Người phát minh yêu cầu vị quốc vương dùng thóc để làm phần thưởng: ô cờ đầu tiên đặt 1 hạt, ô thứ hai đặt 2 hạt, ô thứ ba đặt 4 hạt, cứ thế nhân lên. Đặt hết nửa đầu bàn cờ, thóc mà người phát minh có được phải đựng bằng thìa, bát, rồi đến xô. Từ đó về sau, tình thế đã thực sự chuyển ngoặt. Có phiên bản chuyện kể rằng, nửa sau bàn cờ sẽ làm vị quốc vương phá sản, vì cứ tiếp tục nhân lên thì cuối cùng phải cần hơn 18 triệu triệu hạt thóc (264), đủ để phủ hai lớp thóc lên toàn bộ bề mặt Trái Đất. Tương tự như vậy, theo Định luật Moore, từ khi ra đời ống bán dẫn cho tới nay, cách khoảng 18 tháng thì khả năng và tốc độ tính toán sẽ tăng gấp đôi. Tình thế bàn cờ sẽ lại xuất hiện. Chúng ta đã quen với đối số của Định luật Moore cho nên kết quả sau khi nhân lên tương đối chậm rãi. Nhưng chúng ta không thể đi mua máy tính theo diễn biến của đối số. Cùng với sự gia tăng của khả năng tính toán, giá thành hạ, tăng nhanh về thiết bị và nâng cao hàm lượng công nghệ thông tin, khả năng tính toán tổng hợp sẽ tăng ở mức ngoạn mục: Ước tính năm 2008, năng lực tính toán toàn cầu sẽ tăng khoảng 5 triệu triệu lần (chi phí khoảng 800 tỷ USD); năm 2012 vượt qua 20 triệu triệu lần (chi phí không đến 1.000 tỷ USD); và năm 2014 đạt ngưỡng 40 triệu triệu lần (xem Hình 2).

      Sự tiến bộ nhanh chóng của dung lượng, công suất và tốc độ như vậy đang đẩy nhanh sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, định hình lại công nghiệp sản xuất toàn cầu, đẩy nhanh tốc độ phát triển internet. Dữ liệu toàn cầu, tài chính, nhân sự và dòng chảy thương mại chắc chắn sẽ tăng gấp 3 lần trong 10 năm tới, dù trình độ hiện tại cũng đã đủ đại diện cho sự tiến bộ nhảy vọt với quy mô lớn. Ví dụ, cách đây 20 năm, chưa đến 3% dân số thế giới có điện thoại di động, chưa đến 1% dân số thế giới truy cập internet. Đến nay, 2/3 dân số toàn cầu đã có điện thoại di động, 1/3 dân số toàn cầu truy cập internet. Cùng với sự phát triển liên tục của dòng chảy thông tin và sự xuất hiện của làn sóng công nghệ đột phá mới, tư duy cũ coi công nghệ chỉ là công cụ giảm chi phí giá thành và thúc đẩy tăng năng suất không còn phù hợp. Trực giác mới mách bảo chúng ta rằng, doanh nghiệp có thể bắt đầu với khoản vốn nhỏ và mở rộng quy mô với tốc độ chóng mặt, giá trị lưu chuyển giữa các ngành khác nhau, nhà sáng lập và doanh nghiệp mới ra đời thường có lợi thế hơn những công ty lớn lâu đời, chu kỳ phát triển của công ty được rút ngắn, người lãnh đạo cần phải đưa ra quyết sách một cách nhanh nhất.

Hình 2: Sự gia tăng theo từng năm của năng lực tính toán doanh nghiệp và người tiêu dùng toàn cầu

 Nguồn: William D.Nordhaus, Two centuries of progress in computing, Journal of Economic History, Vol.67, 2007, p.128-159.

     Sự già hóa dân số

     Tỷ lệ sinh giảm, dân số toàn cầu nhanh chóng bước vào giai đoạn già hóa (xemHình3). Già hóa dân số không phải là vấn đề mới ở các nước phát triển, dân số của Nhật và Nga cũng không ngừng giảm. Sự thiếu hụt dân số hiện đang lan sang Trung Quốc, sau đó sẽ lan sang Mỹ Latinh. Dân số của đa số các khu vực trên thế giới sẽ bước vào thời kỳ ổn định, trong khi dân số các nước như Hàn Quốc, Italia và Đức đang giảm, đây là lần đầu tiên xuất hiện tình trạng này trong lịch sử nhân loại.

     30 năm trước, chỉ có một vài quốc gia có tỷ lệ sinh thấp hơn rõ rệt so với mức độ sinh cần đạt tới để thay thế thế hệ trước đó (khoảng 2,1 trẻ em/phụ nữ), trong khi dân số của những quốc gia này chỉ chiếm một phần nhỏ của tổng dân số toàn cầu. Nhưng đến năm 2013, thế giới có khoảng 60% dân số cư trú ở những quốc gia này. Đây có thể coi là sự biến đổi vô cùng lớn. Theo ước tính của Văn phòng Thống kê Liên bang Đức, đến năm 2060, dân số Đức sẽ giảm 1/5, lực lượng lao động sẽ giảm còn 36 triệu (năm 2009 khoảng 50 triệu). Do thực hiện nghiêm chính sách kế hoạch hóa gia đình, số người ở độ tuổi lao động của Trung Quốc đạt đỉnh điểm vào năm 2012, sau đó giảm dần từng năm. Ở Thái Lan, tỷ lệ sinh giảm từ 6,1 trẻ em/phụ nữ (năm 1960) xuống còn 1,4 trẻ em/phụ nữ (năm 2012). Xu thế này đã gây ra ảnh hưởng sâu rộng. Nếu không tăng tỷ lệ sinh, sự giảm thiểu dân số đồng nghĩa với sự giảm sút về tiêu dùng, từ đó hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Hình 3: Số lượng người lao động tương ứng với mỗi người cần được chăm sóc

Tỷ lệ giữa dân số ở độ tuổi lao động (15 - 64 tuổi) và dân số ở độ tuổi cần được chăm sóc (0 - 14 tuổi và từ 65 tuổi trở lên)

Nguồn: Số liệu thống kê dân số của Liên hợp quốc

     Sự va chạm

     Tuyên bố về thời điểm bước ngoặt là một chủ trương quan trọng, đặc biệt, khi những ảnh hưởng căn bản đã phát huy vai trò được một thời gian. Chúng tôi cho rằng, có thể chứng minh thời điểm bước ngoặt thực sự xuất hiện không chỉ bằng tốc độ và quy mô không ngừng gia tăng bởi những ảnh hưởng này, mà còn cả những động thái quen thuộc khi chúng kết hợp lại với nhau để làm thay đổi 2 phương diện cung và cầu của nền kinh tế toàn cầu.

     Về phía cầu, từ những năm 90 của thế kỷ XX, chúng ta đã trải qua vòng tuần hoàn tích cực của xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thị trường mới nổi, xuất khẩu tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập và cơ hội lớn cho sự phát triển của những thị trường này, đồng thời hạ thấp giá cả hàng hóa của các nước phát triển và thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh của tiêu dùng ở các nước Phương Tây. Ví dụ, ở nước Mỹ, từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, giá cả thực tế của các loại hàng hóa nhập khẩu ngoài dầu mỏ đã giảm hơn 30%. Cùng với sự thịnh vượng ngày càng tăng của thị trường mới nổi, khó có thể thu lợi nhuận từ chi phí lao động thấp, điều này tạo ra điểm mấu chốt khiến chính người tiêu dùng bản địa trở thành nhân tố thúc đẩy tăng trưởng, thay thế việc tăng cường xuất khẩu sang thị trường phát triển. Người tiêu dùng Phương Tây cũng khó có thể tiếp tục hưởng thụ lợi ích đáng kể do giá cả nhập khẩu không ngừng hạ thấp mang lại. Cùng với sự xuất hiện của tình trạng này, vai trò quan trọng của thương mại giữa các thị trường mới nổi đang phát triển nhanh sẽ tiếp tục được nâng lên.

     Về phía cung, nhiều năm nay, chúng ta liên tục vận hành mô hình năng suất 2 chiều, thị trường phát triển không ngừng tiến lên phía trước, thị trường mới nổi luôn ở sau tìm cách đuổi kịp. Tổng năng suất của thị trường mới nổi vẫn thấp hơn thị trường phát triển, những người thực hiện mô hình bắt kịp kiểu tập trung tư bản cho rằng, mô hình này khó tiếp tục duy trì vì kinh tế nước bản địa ngày càng lấy người tiêu dùng và dịch vụ làm định hướng. Các thành phố biên giới của Trung Quốc với các dãy nhà cao tầng, những chung cư mới không một bóng người cho thấy, sự quá độ chuyển từ tăng trưởng theo mô hình thúc đẩy đầu tư sang tăng trưởng theo mô hình thúc đẩy tiêu dùng không thể một bước mà thành công được, thậm chí Trung Quốc là nước xác định thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng tiêu dùng và dịch vụ cũng không ngoại lệ. Mặt khác, số hóa và công nghệ di động cần phải tạo nền tảng cho đổi mới dịch vụ sản phẩm, đại diện xuất sắc về vấn đề này là Châu Phi và Trung Quốc: Châu Phi có 15% giao dịch hoàn tất thông qua điện thoại di động (thị trường phát triển có 5%), trong khi thành công của Alibaba ở Trung Quốc đã chứng minh thị trường tiêu dùng trực tuyến có thể đạt được phạm vi và quy mô chưa từng có.

     Hiện nay vẫn chưa chỉ ra được làm thế nào để tận dụng triệt để mối quan hệ tương trợ giữa cung và cầu. Chúng tôi đã tiến hành xây dựng mô hình cả lạc quan lẫn bi quan đối với tình hình tăng trưởng GDP toàn cầu từ nay cho đến 10 năm tới. Chênh lệch giữa 2 trạng thái này lên tới 17 nghìn tỷ USD, gần tương đương với quy mô GDP hiện nay của Mỹ. Lượng thay đổi có tác động tới động lực tăng trưởng quan trọng toàn cầu - tốc độ và mức độ biến đổi của hành vi người tiêu dùng trong thị trường mới nổi, thị trường phát triển làm thế nào để thích ứng với một thế giới không còn thu được lợi ích từ thị trường mới nổi với chi phí nhập khẩu và chi phí nguồn lực thấp, làm thế nào để thích ứng với phương án giải quyết năng suất mới được ra đời do sự thúc đẩy công nghệ tiên phong mà thị trường phát triển và mới nổi thử thúc đẩy nhằm ứng phó với thách thức tăng trưởng dân số và các thách thức khác.

     Những khu vực, quốc gia khác nhau hay thậm chí là cá nhân khác nhau đều có thể đón nhận những vận mệnh khác nhau do tính linh hoạt của sức mạnh tổng hợp của quốc gia hay chế độ và chính sách. Thật vậy, một số nước Nam Âu và Đông Âu vẫn đang chìm vào vũng lầy suy thoái và nợ công đã chứng minh điều này, nước Mỹ cũng đang phải đối mặt với tình cảnh khó khăn này, một số chính quyền ở địa phương tiến gần tới “sụp đổ” vì nền tảng kinh tế không thể đáp ứng đòi hỏi của tình trạng già hóa dân số. Tương tự như vậy, cùng với sự già hóa dân số gia tăng, rất nhiều thị trường mới nổi quan tâm tìm kiếm mô hình tăng trưởng kiểu chèo lái năng suất, như vậy càng tạo ra sự không đồng đều giữa phát triển và tiến bộ, vì đa số các phương án giải quyết năng suất dựa vào thể chế giám sát và cơ chế thị trường, trong khi trên phương diện này, thị trường mới nổi còn xa mới đạt yêu cầu.

     Kinh tế toàn cầu trong cùng một thời gian có thể xuất hiện nhiều loại áp lực, chúng ta không nên chỗ nào cũng đặt ra dự kiến, nhưng cũng không nên quá bi quan. Áp lực to lớn sản sinh từ sức sống của thị trường mới nổi, của biến đổi công nghệ và tình trạng già hóa dân số nhanh chóng sẽ kích thích sự ra đời một thời đại mới và tăng trưởng trên nhiều lĩnh vực, bao gồm việc đáp ứng nhu cầu của cộng đồng tiêu dùng không ngừng gia tăng trên phạm vi toàn cầu bằng việc tận dụng nguồn lực tự nhiên một cách hiệu quả hơn và quản lý nhân tài một cách sáng tạo hơn.

     Những gợi mở cho quản lý

     Thế giới biến động từng ngày, có được thành công hay không dựa vào việc nhà lãnh đạo làm thế nào nhận thức được tầm quan trọng và tính lâu dài của những biến đổi sắp diễn ra và làm thế nào nhanh chóng bắt kịp tư duy quản lý mới.

     Đặt ra phương hướng chiến lược

   Nghiên cứu của McKinsey cho thấy, sự tăng trưởng của một công ty thì 2/3 được quyết định bởi động lực thị trường, tức tỷ lệ tăng trưởng cơ bản, lạm phát, thu nhập và sức tiêu dùng của thị trường. Bá chủ của thị trường tương lai là đối thủ cạnh tranh kiêm được nhiều khu vực hơn, nhiều ngành nghề hơn và nhiều loại hình hơn, là “vận động viên toàn năng” tiềm ẩn trong đối tác hợp tác, tham gia vào chuỗi giá trị và làm bên tương quan lợi ích thuộc chính phủ hay phi chính phủ. Nhà chiến lược tương lai không phải xem xét phân chia nhỏ thị trường cấp 1 toàn quốc thành một vài mức giá trị, mà phải lý giải thị trường một cách toàn diện, hiểu rõ thực tế rằng sản phẩm và dịch vụ sẽ diễn ra sự khác biệt vì sự chia nhỏ thành thị, kênh phân phối và dân số, hơn nữa tình trạng già hóa dân số và sự bất bình đẳng thu nhập cũng đòi hỏi đa nguyên hóa hơn nữa. Tất cả những điều này đều tăng cường vai trò của tính nhanh nhạy: Đặt ra phương pháp nhất thể hóa toàn cầu có khả năng “thu gọn” nhanh, đồng thời “phóng to” sản phẩm tinh hoa hoặc phân khúc thị trường.

     Trong thế giới biến động từng ngày như hiện nay, tầm quan trọng của dự đoán tích cực và tính gián đoạn tương ứng cũng được nâng cao rõ rệt. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải tiến hành giám sát xu thế, tham gia kế hoạch luyện tập với tình huống mô phỏng những ảnh hưởng về công nghệ có khả năng đột phá - ứng phó nhanh khi điều kiện cạnh tranh thay đổi. Ví dụ, có rất ít nhà sản xuất điện thoại di động truyền thống có thể chế ngự được sự khuynh đảo đến từ iPhone của Apple. Tuy nhiên, Samsung lại thành công trong việc biến nó thành cơ hội cho sự phát triển của riêng mình. Cuối cùng, các nhà chiến lược cần tiến hành xem xét trong khung thời gian đa chiều, bao gồm chiến thuật ngắn hạn và cải thiện liên tục để ứng phó trước áp lực cạnh tranh mới, xem xét lựa chọn thị trường và trọng tâm thị trường từ vị thế cạnh tranh và năng lực hiện có để nâng cao năng lực trong khuôn khổ chiến lược hiện có và thúc đẩy đầu tư vào thị trường lân cận để nhìn nhận, lựa chọn và tìm kiếm năng lực bền vững mới. Điều cuối cùng rất đáng được chú ý, đó là sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và tính liên thông qua lại giữa khu vực và thị trường sản phẩm đã chấm dứt nhanh chóng một nửa sinh mệnh của lợi thế cạnh tranh “bình thường”. Điều này buộc chúng ta phải coi trọng việc lựa chọn và bồi dưỡng năng lực đặc thù.

     Xây dựng huyết mạch quản lý mới

     Trừ khi các nhà lãnh đạo cấp cao tự làm mới bản thân trong bối cảnh công nghệ không ngừng phát triển, sự phức tạp của gia tăng dân số và đa nguyên hóa khu vực, bằng không sẽ rất khó để đặt ra hoặc thực thi được chiến lược hiệu quả. Mỗi người đều là chuyên gia công nghệ. Công nghệ không còn là chuỗi dự toán hay vấn đề kinh doanh đơn giản nữa- trên thực tế, nó là đòn bẩy đằng sau mỗi một chiến lược. Nhà quản lý cấp cao phải xem xét công nghệ đặc thù có khả năng tác động như thế nào đối với các khâu nghiệp vụ, hơn nữa phải biết cách sử dụng số liệu và kỹ thuật. Hiện nay, vấn đề khiến giới chuyên gia trong ngành tranh luận sôi nổi là thiết lập nhà quản lý số, đứng ra phụ trách vấn đề chiến lược về công nghệ của công ty, hoặc là thiết lập nhà quản lý thông tin, quản lý các phương diện về công nghệ được sử dụng trong công ty. Cơ hội công nghệ liên tục xuất hiện, nhưng hiểm họa cũng tồn tại khắp nơi, bao gồm các rủi ro an ninh mạng, cùng với việc số hóa xâm nhập đi sâu vào các hoạt động hằng ngày của công ty, đây là vấn đề mà các nhà quản lý cấp cao ngày càng quan tâm.

     Quản lý đội ngũ nhân viên mới

     Công nghệ đang dần thay thế con người, công nghệ thông tin không chỉ thay đổi nội dung công việc, mà còn tạo ra biến đổi trong phương thức, thời gian và địa điểm công việc. Nghiên cứu của McKinsey cho thấy, trong phạm vi toàn cầu, có 140 triệu lao động trí thức được thay thế bởi máy móc, đồng thời lực lượng lao động ngày càng già hóa, tình trạng thiếu lao động đã trở thành vấn đề nan giải mà nền công nghệ hiện nay phải đối mặt. Trong môi trường đó, trọng tâm mới của hoạt động bao gồm đảm bảo công ty sử dụng máy móc có khả năng thay đổi và cải tạo công việc triệt để theo phương thức sáng tạo, xây dựng kỹ năng mới thúc đẩy mô hình nghiệp vụ do công nghệ tương lai điều khiển, công việc hằng ngày có thể được tự động hóa nhưng kiến thức về chế độ hoạt động của nó là tài sản quý giá, là kỹ năng của người lao động, cần được đào tạo. Người lao động nắm bắt nhiều kỹ năng phổ thông hơn, họ phải đối mặt với rủi ro về độ lành nghề kỹ thuật không bằng thế hệ trước, nếu không xử lý tốt sẽ trở thành áp lực xã hội, buộc nhà quản lý phải ra sức động viên lực lượng lao động, bao gồm cả những người lao động chưa hài lòng sau lưng mình. Thị trường phát triển và mới nổi đều trải qua vấn đề như vậy nhưng hình thức cụ thể thì khác nhau, điều này khiến các doanh nghiệp phải đối mặt với thách thức cân bằng nhân lực nêu trên.

     Xem xét lại việc phân bổ nguồn lực

     Sự hội tụ của công nghệ thông tin và khoa học vật liệu dẫn tới trào lưu đổi mới, điều này đã thay đổi một cách rõ rệt thời gian, địa điểm, cách thức sử dụng tài nguyên thiên nhiên của chúng ta. Trong cuốn “Resource Revolution”, do Stefan Heck, Giám đốc cấp cao của McKinsey và Matt Rogers, Cựu Giám đốc McKinsey đồng chủ biên, chỉ ra rằng, kết hợp công nghệ thông tin, khoa học vật liệu nano, công nghệ sinh học cùng với kỹ thuật công nghiệp sẽ nâng cao năng suất nguồn lực một cách rõ rệt. Những cải tiến này kết hợp lại với nhau sẽ đại diện cho cơ hội đặc biệt nhằm sáng tạo ra của cải vật chất, đồng thời sẽ trở thành chìa khóa để các nước đang phát triển tăng trưởng kinh tế với năng suất cao, từ đó đáp ứng nhu cầu của hàng tỷ thành viên trong tầng lớp trung lưu mới. Việc nắm bắt cơ hội của nguồn lực này đòi hỏi phương pháp quản lý mới, ví dụ thay thế (dùng vật liệu không khan hiếm, chi phí thấp và hiệu quả cao thay thế cho vật liệu giá thành cao, cồng kềnh hoặc khan hiếm), tối ưu hóa (áp dụng phần mềm vào các ngành công nghiệp tập trung nhiều tài nguyên nhằm cải tiến phương thức sản xuất và sử dụng tài nguyên khan hiếm cho doanh nghiệp) và ảo hóa (tách quy trình khỏi thế giới thực).

     Phá vỡ lối mòn

     Cải cách không dễ dàng. Các nhà khoa học xã hội và kinh tế hành vi phát hiện rằng, thỏa mãn với hiện trạng là bản tính của con người. Năm 1988, hai nhà kinh tế học William Samuelson và Richard Zeckhauser thuộc Đại học Boston và Đại học Harvard đã nhấn mạnh một câu chuyện, khi ấy Chính quyền Tây Đức phải di chuyển một thị trấn nhỏ để khai thác than được chôn dưới đất. Các nhà chức trách đề đạt nhiều phương án quy hoạch thành phố mới, nhưng phương án mà người dân lựa chọn lại gần như chẳng khác gì bố cục ban đầu, và bố cục này được hình thành vô thức sau khi trải qua hàng thế kỷ, không hề có quy tắc hay nguyên do gì cả.

     Khi đưa ra quyết sách, doanh nghiệp luôn xem xét làm thế nào dùng đủ nguồn lực để hỗ trợ chiến lược nhằm thúc đẩy thành quả sản xuất, tuy nhiên kiểu tư duy lối mòn này thường khiến doanh nghiệp gặp tổn thất. Nghiên cứu của McKinsey cho thấy rằng, từ năm 1990 đến năm 2010, đa số các công ty Mỹ đều dựa vào cơ hội trong quá khứ mà không phải là ở tương lai để phân bổ nguồn lực. Dù ở vào thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009, hành vi thụ động này vẫn diễn ra như trước. Trong khi đó, lợi nhuận bình quân hằng năm của cổ đông của những công ty chủ động nhất trên khía cạnh phân bổ nguồn lực cao hơn 30% so với những công ty kém chủ động nhất. Trong tương lai, cùng với việc số hóa làm mờ dần ranh giới giữa các ngành và mức độ khốc liệt gia tăng trong cạnh tranh của thị trường mới nổi, người nào hành động nhạy bén và nhanh chóng sẽ đạt lợi nhuận cao hơn.

     Tuy nhiên, khi phải đối mặt với những thay đổi lớn sắp diễn ra hoặc ứng phó với những thay đổi bằng tư duy lỗi thời, tổ chức và người lãnh đạo rất dễ phải bó tay bất lực. Trong tình thế này, tầm nhìn dài hạn có lẽ sẽ hữu ích hơn. Năm 1930, nhà kinh tế học vĩ đại người Anh John Maynard Keynes đã mạnh dạn dự đoán rằng, 100 năm sau đó, mức sống của các nước tiến bộ sẽ tăng 4 đến 8 lần so với bây giờ. Thực tế chứng minh, 8 lần đã gần với sự thực hơn. Chỉ có những nhà lãnh đạo mới lý giải được chiều sâu, bề rộng của sự biến đổi và cải tạo triệt để những cơ hội mới có đủ khả năng tái hình thành tư duy đúng đắn, sáng tạo nên thế giới mới và đạt được sự phát triển thịnh vượng ■

ThS. TRẦN MINH VĂN dịch




Share Post




Một số bài viết khác

- Tương quan giữa nhà nước và thị trường trong vận hành nền kinh tế ở một số nước châu Á: Hàm ý cho Việt Nam - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn, TS. Vũ Xuân Bình

- Định hướng phát triển Logistic Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế - Tác giả: TS. Hoàng Đình Minh, TS. Trương Bảo Thanh, Ths. Nguyễn Quang Minh

- Chính sách tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam - Tác giả: PGS.TS Hoàng Văn Hoan

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988 - 2015: Thực trạng và vấn đề - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường - Góc nhìn từ khu kinh tế Vũng Áng: Nghiên cứu trường hợp khu liên hợp gang thép của tập đoàn FORMOSA - Tác giả: TS. Phí Hùng Cường

- Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam - Tác giả: TS. Hoàng Đình Minh, TS. Trương Bảo Thanh

- Vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Phòng ngừa, khắc phục một số căn bệnh trong tư duy lãnh đạo, quản lý - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn