Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) — Phạm vi, cấu trúc và những tác động đến thương mại, đầu tư và hoạch định chính sách - Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Vũ Hoàng

28/10/2015 14:08

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)  Phạm vi, cấu trúc và những tác động đến thương mại, đầu tư và hoạch định chính sách

       PGS.TS Nguyễn Vũ Hoàng

 Học viện Chính trị Khu vực I

     1. Dẫn nhập

     Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của hội nhập kinh tế quốc tế luôn là chủ đề cần quan tâm nghiên cứu của bất kỳ quốc gia nào. Chính vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế được nghiên cứu từ rất sớm, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Các nghiên cứu này đi theo khá nhiều hướng. Nhóm thứ nhất đi vào làm rõ những lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế, ví dụ nghiên cứu của Katarzyna Śledziewska: “Lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế” ([1]) chỉ ra một loạt quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế của Pinder (1969), Kahnert te al.. (1969), Mennis and Sauvant (1976), Pelkmans (1984), Balassa (1973), Swann (1996)…, hay nghiên cứu của Iván Arribas, Francisco Pérez, Emili Tortosa-Ausina: “Đo lường việc hội nhập kinh tế quốc tế-Lý thuyết và bằng chứng của toàn cầu hóa” ([2]), nghiên cứu của Teng Delux: ”Bản chất và các giai đoạn của hội nhập kinh tế quốc tế” ([3])... Nhóm nghiên cứu thứ hai đi vào làm rõ những quan niệm chung về hội nhập kinh tế quốc tế. Ví dụ, William J. Kehoe trong tác phẩm “Hội nhập kinh tế khu vực và tòa cầu: Những phân tích cho kinh doanh toàn” ([4]) đã đưa ra quan niệm về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế vùng, khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, khối thị trường chung, liên minh kinh tế, liên minh chính trị…, quan niệm về hội nhập kinh tế toàn cầu, ví dụ trường hợp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nhóm nghiên cứu thứ 3 đi vào các khối kinh tế - thương mại toàn cầu, ví dụ nghiên cứu thỏa thuận thương mại khu vực của Peter Draper do OECD xuất bản năm 2010: “Tái suy nghĩ về các nền tảng (Châu Âu) của Hội nhập kinh tế khu vực cận Sahara: Một bài viết kinh tế chính trị” ([5])…

     Là một trong những Hiệp định quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, với mục tiêu thiết lập một khu vực thương mại tự do chung cho các nước đối tác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Cho đến nay, đã có 12 nước tham gia vào đàm phán TPP (bao gồm Niu Di Lân, Brunêi, Chilê, Xingapo, Ôxtrâylia, Peru, Hoa Kỳ, Malaisia, Việt Nam, Canađa, Mêhicô và Nhật Bản). Đàm phán TPP hiện đang là một trong những đàm phán thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, bao gồm không chỉ các vấn đề về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ mà còn cả những vấn đề phi thương mại. 

     2. Phạm vi của TPP

     Hiệp định TPP là một Hiệp định đặc biệt xuất phát từ tầm cỡ của nó. Đây là hiệp định mang tính lịch sử và đặt ra tiêu chuẩn mới cho các hiệp định thương mại trong tương lai. Đây là Hiệp định toàn diện và tham vọng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó xóa bỏ thuế quan và các hàng rào khác đối với thương mại và đầu tư. Thành công của Hiệp định có thể thúc đẩy tốt nhất thương mại và đầu tư giữa các quốc gia TPP, tạo ra và duy trì việc làm thông qua hoạt động thương mại. Hiệp định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và phát triển chuỗi sản xuất và cung ứng giữa các thành viên TPP, hỗ trợ mục tiêu tạo việc làm và nâng cao mức sống và cải thiện phúc lợi tại các nước thành viên. Để đạt được điều này, lần đầu tiên trong một hiệp định thương mại đã đưa ra những cam kết giúp giải quyết một cách tổng thể các vấn đề liên quan tới phát triển chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực, trong đó gồm các vấn đề kết nối, hợp tác hải quan và các tiêu chuẩn. Các nước TPP cũng nhất trí xây dựng biểu thuế thống nhất cũng như các quy tắc xuất xứ chung để giúp các doanh nghiệp vận dụng được Hiệp định dễ dàng hơn.

     Hiệp định được xây dựng trên cơ sở những thỏa thuận đã thực hiện trong khuôn khổ APEC và các diễn đàn khác và bằng việc đưa vào Hiệp định TPP các vấn đề mới và mang tính xuyên suốt gồm việc gắn kết môi trường chính sách, năng lực cạnh tranh và tạo thuận lợi cho kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), việc tự do hóa thị trường một cách toàn diện và mạnh mẽ, việc cải thiện các quy định nhằm tăng cường thương mại và đầu tư...

     Hiệp định TPP bao gồm 30 chương về thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại, từ thương mại hàng hóa đến hải quan và trợ giúp thương mại; biện pháp vệ sinh dịch tễ; rào cản kỹ thuật đối với thương mại; biện pháp phòng vệ thương mại; đầu tư; dịch vụ; thương mại điện tử; mua sắm công; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; các chương “ngang” nhằm mục đích đảm bảo TPP tận dụng được các tiềm năng về phát triển, năng lực cạnh tranh, và sự toàn diện; giải quyết tranh chấp, các điều khoản ngoại lệ, và điều khoản thi hành.

     Ngoài cập nhật các phương pháp truyền thống đối với vấn đề của các hiệp định thương mại tự do trước đây, TPP còn đưa vào các vấn đề thương mại mới và các vấn đề xuyên suốt, bao gồm các vấn đề liên quan đến Internet và nền kinh tế kỹ thuật số, sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước trong đầu tư và thương mại quốc tế , khả năng của các doanh nghiệp nhỏ để tận dụng lợi thế của các hiệp định thương mại, và các chủ đề khác.

     Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là một Hiệp định toàn diện, bao trùm một phạm vi rất rộng của thương mại quốc tế ([6]):

     - Thương mại hàng hóa (trade in goods): bao gồm các vấn đề như đối xử quốc gia (national treament), giảm nghĩa vụ thuế quan (elimination of Customs Duties), hàng rào phi thuế quan (non – tariff measures), các chi phí và thủ tục hành chính (Administrative Fees and Formalities), trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản (Agricultural Export Subsidies), các biện pháp tự vệ đặc biệt với hàng nông sản (Special Agricultural Safeguard Measures), quy tắc xuất xứ (Rules of orgin), thủ tục hải quan (customs procedures), các biện pháp phòng vệ thương mại (trade remedies) – gồm các biện pháp tự vệ (Global Safeguards), bán phá giá và thuế đối kháng (Antidumping and Countervailing Duties), các biện pháp vệ sinh dịch tễ (sanitary and phytosanitary measures), hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (technical barriers to trade)...

     - Chính sách cạnh tranh (Competition policy): luật cạnh tranh (Competition Law), hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (abusive behaviour resulting from single or joint dominant positions in a market)...

     - Sở hữu trí tuệ (Intellectual property): nhãn hiệu hàng hóa (Trade Marks), chỉ dẫn địa lý (Geographical Indications)...

     - Mua sắm Chính phủ (Government Procurement): Hợp đồng xây dựng kinh doanh, chuyển giao (build-operate-transfer contract), hợp đồng gia nhập công trình công cộng (public works concession contract)...

     - Thương mại dịch vụ (Trade in Services): hiện diện thương mại (commercial presence), đối xử quốc gia (National Treatment), đối xử tối huệ quốc (Most-Favoured-Nation Treatment), tiếp cận thị trường (Market Access)…, dịch vụ tài chính (Financial service), dịch vụ nghề nghiệp (Professional Services)…

     - Hiện diện tạm thời (Temporary Entry): các biện pháp nhập cư (immigration measure), thủ tục thông quan nhập cảnh (immigration clearance procedures), an ninh biên giới (border security), bảo vệ lao động nội địa (protecting the domestic labour force)…

     - Minh bạch hóa: bao gồm các nội dung như công bố (Publication), thủ tục hành chính (Administrative Proceedings), xem xét và giải quyết khiếu nại (Review and Appeal), các điểm giải đáp (Contact Points)…

     - Giải quyết tranh chấp: lựa chọn cơ quan, tổ chức giải quyết (Choice of Forum), tham vấn (Consultations), thương lượng, hòa giải (Conciliation and Mediation), Hội đồng trọng tài (Arbitral Tribunal)…

     3. Những tác động của TPP đến thương mại và đầu tư và hoạch định chính sách

     Là một Hiệp định toàn diện và áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, Hiệp định TPP tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, đến đời sống dân cư. Có thể khái quát các tác động cơ bản của TPP như sau:

     a. Những tác động chung tới đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia:

     Hướng tiếp cận thứ nhất về Hiệp định TPP trên thế giới là các nghiên cứu chung về TPP. Đây là các nghiên cứu phác thảo những vấn đề chung của Hiệp định, chỉ ra tầm quan trọng của Hiệp định, cũng như tác động của Hiệp định đối với các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội quốc gia. Ví dụ, trong nghiên cứu Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương“ của Ian F. Fergusson năm 2010 ([7]), đã chỉ ra rằng, việc kiến trúc chiến lược và kinh tế Châu Á đang diễn ra mạnh mẽ. Và một trong các văn bản tạo dấu ấn cho điều đó là Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương đi vào hiệu lực năm 2006 với các thành viên là Chilê, Niu Di Lân, Brunêi và Xingapo. Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Pêru và Việt Nam đã tích cực đàm phán để gia nhập. Những liên kết khác tạo nền tảng là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (Apec), sáng kiến Cộng đồng của Thủ tướng Ôxtrâylia Kevin Rudd, và Cuộc gặp thượng đỉnh Đông Á (EAS) về cả phương diện kinh tế và chiến lược. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, việc hội nhập đã hình thành hai nhóm nước: Nhóm thứ nhất lấy Châu Á làm trung tâm và loại trừ ảnh hưởng của Hoa Kỳ, và nhóm thứ hai về bản chất là xuyên Thái Bình Dương và bao gồm ảnh hưởng của Hoa Kỳ. TPP là một phương tiện được sử dụng để tạo ảnh hưởng cho Hoa Kỳ. Nghiên cứu này cũng đưa ra những phân tích đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Asean, Asean cộng 6, và về hai nền kinh tế mạnh là Nhật Bản và Trung Quốc.

     Một nghiên cứu khác của William Krist: “Các vòng đàm phán của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương“ ([8]) lại xem xét các vòng đàm phán của TPP dưới ngữ cảnh lịch sử, đánh giá tình trạng hiện tại của các cuộc đàm phán, xem xét một loạt các vấn đề then chốt gắn liền với các vòng đàm phán, cũng như tìm kiếm các thành viên mới tham gia các vòng đàm phán...

     b. Những tác động của TPP theo khu vực và hội nhập vùng:

     Các nghiên cứu dưới góc độ này nhìn nhận, đánh giá Hiệp định đối tác xuyên  Thái Bình Dương dưới góc độ hội nhập vùng, ví dụ khu vực Đông Á, Châu Á-Thái Bình Dương, khối các nước lớn và đang phát triển (các nước BRIC gồm Brazil, Russia, India and China).

     Nghiên cứu thứ nhất cần kể đến là của Inkyo Cheong:  “Các vòng đàm phán cho Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Đánh giá và những xem xét cho việc hội nhập khu vực Đông Á“ tháng 7 năm 2013 ([9]) đã chỉ ra rằng, Hiệp định TPP dường như là sự giao thoa: nó có thể là rào cản trong hội nhập kinh tế giữa Châu Á và Thái Bình Dương, và cũng có thể là điểm nhấn cho sự hình thành hai khối thương mại lớn vận hành một cách độc lập. Bài viết đưa ra tranh luận rằng, TPP sẽ được thúc đẩy bởi giá trị kinh tế của nó, chứ không phải vì các mục đích địa chính trị. Nó cũng sẽ mở đường cho tất cả các nước Châu Á và Thái Bình Dương, bao gồm cả Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và là động lực phát triển cho nền kinh tế thế giới. Phạm vi và mức độ bao phủ của TPP cũng rộng lớn và toàn diện đủ để thúc đẩy hiệu ứng đô mi nô cho sự hội nhập kinh tế Châu Á và Thái Bình Dương.

     Nghiên cứu của Peter A .Petri and Michael G. Plummer: “Đối tác xuyên Thái Bình Dương và hội nhập Châ Á – Thái Bình Dương: Những định hướng chính sách“ năm 2012 ([10]) xác định, một nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương là quan trọng đối với Hoa Kỳ, khu vực Châu Á -  Thái Bình Dương, và toàn thế giới. Các hoạt động của Châu Á và Thái Bình Dương, đặc biệt là TPP, sẽ tạo ra các con đường để hội nhập.

     Nếu nghiên cứu của Peter A .Petri and Michael G. Plummer đi theo hướng khẳng định tầm quan trọng của Hiệp định TPP đối với Hoa Kỳ, khu vực Châu Á -  Thái Bình Dương, và toàn thế giới thì nghiên cứu của Henry Gao: “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương: Tiêu chuẩn cao hoặc mất cơ hội?“ ([11]) lại chỉ ra ảnh hưởng của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương với sự so sánh, đối chiếu với các quy định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT).

     Nghiên cứu của Gong, Baihua trong  “Hiệp định xuyên Thái Bình Dương và những phân tích đối với các quốc gia BRICS” (bao gồm các quốc gia Brazil, Liên bang Nga, Ấn Độ và Trung Quốc ([12]) chỉ ra các phạm vi của Hiệp định bao gồm tiếp cận thị trường toàn diện, thỏa thuận vùng, các vấn đề về cắt giảm thương mại, các thách thức thương mại mới.

     Một nghiên cứu khác là Các nguyên tắc của Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) ([13]) đưa các các nhận định về Hiệp định TPP. Theo đó đây là Hiệp định toàn diện, bởi nó bao trùm tất cả các vấn đề thương mại và đầu tư, bao gồm cả nông nghiệp, hàng hóa, dịch vụ, thương mại số và sở hữu trí tuệ. Đây cũng là Hiệp định đầy ý nghĩa thương mại, tạo ra cơ hội thương mại và cơ hội cho việc mở cửa thị trường cho nông nghiệp, người tiêu dùng, các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ và nhà đầu tư. Hiệp định này cũng tìm kiếm việc giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, yêu cầu mở cửa tương tự thị trường dịch vụ. Hiệp định này cũng làm đơn giản hóa thương mại và tăng tính cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất và cung ứng, chấp nhận những tiêu chuẩn cao của bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển và bảo vệ đầu tư, phát triển sự minh bạch và giảm bớt tham nhũng, tạo ra cơ hội mua sắm công bằng…

     Trong một tham luận tại Hội thảo xem xét sự phát triển Châu Á vào tháng 8 năm 2013: “Các đánh giá thương mại cho đối tác Châu Á – Thái Bình Dương và các nước Châu Á khác” ([14]) tổ chức tại Manila, Alan V. Deardorff đã chỉ ra rằng, TPP là Hiệp định đã gắn kết 12 quốc gia hai bên bờ Thái Bình Dương. Ngoài ra, để thành lập Khu vực mậu dịch tự do (FTA) trong các nước trên, các nhà đàm phán đang theo đuổi một loạt các vấn đề, bao gồm cả các vấn đề thương mại và phi thương mại. Bài tham luận phân tích những tác động của TPP đối với bản thân hoạt động thương mại, qua đó xem xét tới các thành viên tiềm năng của TPP nhưng đã là thành viên của các FTAs khác.

     c. Tác động của TPP đối với từng quốc gia riêng biệt:

     Các nghiên cứu thuộc nhóm này đi sâu phân tích các tác động của TPP đối với từng quốc riêng biệt.

     Từ cách tiếp cận đó, Wen Jin Yuan trong tác phẩm: “Đối tác Châu Á – Thái Bình Dương và các chiến lược phù hợp của Trung Quốc” tháng 6 năm 2012 ([15]) đã chỉ ra những điều kiện, hoàn cảnh theo đó Trung Quốc tham gia TPP, chỉ ra những tác động tiềm năng của TPP tới Trung Quốc.

     Nghiên cứu của Hirono, K., Gleeson, D., Haigh, F., Harris, P. (2014). “Các vòng đàm phán của Hiệp định đối tác xuyên Châu Á – Thái Bình Dương và tác động tới Ôxtrâylia: Một phân tích tóm tắt chính sách” ([16]) tại Trung tâm đào tạo, nghiên cứu và đánh giá sức khỏe, Trung tâm chăm sóc sức khỏe của người Ôxtrâylia, UNSW Ôxtrâylia, đã thông tin về sự tranh luận từ phương diện tác động tới quốc gia trong các vòng cuối cùng của đàm phán đối với Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPPA), đặc biệt là trong các cuộc gặp của các nhà đàm phán cấp cao và các Bộ trưởng tháng 2 năm 2014. Bài viết này cũng đã phác thảo những bằng chứng về những ảnh hưởng sức khỏe tiềm năng tới Cộng đồng người Ôxtrâylia gắn liền với TPPA, trên cơ sở các công bố công khai và gần đây của các văn bản đàm phán bị phát tán. Mục đích của TPPA là đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của quốc gia và điều này có thể dẫn đến để nâng cao sự phát triển sức khỏe và xã hội. Tuy nhiên, mặc dù có những tác động tích cực đến sức khỏe và sự thịnh vượng của người Ôxtrâylia xuất phát từ tăng trưởng kinh tế, vẫn có những tác động tiêu cực của TPP tới sức khỏe người Ôxtrâylia. Nghiên cứu này xem xét tác động tiềm năng của các điều khoản của TPPA tới sức khỏe người Ôxtrâylia, tập trung vào hai vấn đề riêng biệt: giá thuốc, và khả năng của Chính phủ tiến hành các bước cơ bản để nâng cao sức khỏe của người Ôxtrâylia bằng việc điều chỉnh các khu vực của chính sách thuốc lá và rượu cồn. Nghiên cứu này cũng đề cập tới cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư và Chính phủ các nước, các hàng rào phi thuế quan (TPP)…

      Một nghiên cứu khác của Wyber R, Perry W. “Đối tác xuyên Thái Bình Dương: Một phân tích về tác động đối với sức khỏe ở Niu Di Lân” ([17]) do Viên Nyes Institute tiến hành năm 2013 đã phát hiện 5 vấn đề then chốt phái sinh từ TPP ảnh hưởng tới sức khỏe ở Niu Di Lân: ảnh hưởng tới kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng của việc giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư và Chính phủ các nước, ảnh hưởng tới dược phẩm, sở hữu trí tuệ và các sản phẩm ảnh hưởng sức khỏe.

     Nghiên cứu của Ian F. Fergusson, William H. Cooper, Remy Jurenas, Brock R. Williams: “Các vòng đàm phán đối tác xuyên Thái Bình Dương và các vấn đề đối với Nghị viện” ([18]) tháng 12 năm 2013 lại tiếp cận trong mối quan hệ đối với cơ quan lập pháp (Nghị viện). Theo phân tích của tài liệu này, đối tác xuyên Thái Bình Dương là một Thỏa thuận thương mại tự do khu vực (FTA) được đàm phán giữa các nước Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, Niu Di Lân, Peru, Xingapo và Việt Nam. Các nhà đàm phán Hoa Kỳ và những nhà đàm phán khác đã mô tả và nhìn nhận TPP như là một FTA tiêu chuẩn cao và toàn diện mà nhằm tự do hóa thương mại trong hầu hết các lĩnh vực của hàng hóa và dịch vụ và bao gồm các cam kết thậm chí nằm ngoài các cam kết của WTO. Bài viết cũng đề cập với vai trò của Nghị viện đối với các vấn đề đàm phán, và những vấn đề có thể được xem xét bởi Nghị viện.

     Trong một nghiên cứu về được đề cập tại “Đối tác xuyên Thái Bình Dương, Quyền sở hữu trí tuệ”, và “Đối tác xuyên Thái Bình Dương, Quyền sở hữu trí tuệ (bản thảo) ([19]) đề cập tới bản đề xuất đầu tiên của Hoa Kỳ được đưa ra tháng 02/2011 và sau đó được sửa đổi lần thứ nhất vào tháng 09/2011. Đây được coi là một bản đề xuất chi tiết nhất để các bên bàn luận trong tại các vòng đàm phán. 

      Nghiên cứu Nghiên cứu của Bộ Công nghiệp và thương mại quốc tế Malaysia: “ Các tóm tắt về đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP): sự tham gia của Malaysia trong các Thỏa thuận thương mại tự do“ ([20]) đã phân tích cơ sở và vai trò của TPP, các vấn đề của gia nhập TPP, mục đích của TPP và các thách thức đối với Malaysia khi gia nhập.

     d. Tác động của TPP đối với các lĩnh vực chuyên biệt:

     Do phạm vi rộng lớn, TPP có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế nói chung và tác động tới nhiều lĩnh vực chuyên biệt.

Một nghiên cứu nổi bật là “Bản sao chương đầu tư cho Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương” ([21]) đã đưa ra cảnh báo về những nguy hiểm của việc đàm phán “thương mại” mà không có sự giám sát của báo chí, công chúng hay của các nhà hoạch định chính sách. Nó cho thấy rằng các nhà đàm phán đã cùng tán thành nhiều điều khoản cơ bản về việc trao các đặc quyền mới cho các nhà đầu tư nước ngoài và trao cho họ quyền thực thi pháp luật tư thông qua các tòa án đặc biệt có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa “nhà đầu tư và nhà nước”.

     Mặc dù TPP được coi là một hiệp định “thương mại”, tài liệu đã cho thấy rằng TPP sẽ giới hạn sự kiểm soát của các chính phủ đối với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ mình, cùng với các yêu cầu trao cho các doanh nghiệp nước ngoài nhiều quyền lợi hơn so với các doanh nghiệp trong nước. Tài liệu này cũng chỉ ra rằng một hệ thống pháp lý hai chiều, trong đó các doanh nghiệp nước ngoài được trao quyền trực tiếp kiện chính phủ một nước TPP ra tòa án nước ngoài thay vì tòa án và pháp luật nước đó. Đồng thời, các doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với các quy định pháp luật nội địa về quyền sử dụng đất, môi trường, sức khỏe, tài chính và các lĩnh vực khác mà họ cho là vi phạm các đặc quyền TPP mới của họ.

      Lấy ví dụ về các cam kết trong khuôn khổ TPP đối với các lĩnh vực thương mại hàng hóa và dệt may. Về thương mại hàng hóa, các quốc gia thành viên đồng ý xoá bỏ và cắt giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp, xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các chính sách hạn chế khác về hàng hoá nông nghiệp. Hầu hết việc loại bỏ thuế quan đối hàng công nghiệp sẽ được thực hiện ngay lập tức, mặc dù thuế đối với một số sản phẩm sẽ được loại bỏ theo một khung thời gian dài hơn như các bên đã thỏa thuận. Việc cắt giảm thuế cụ thể theo thỏa thuận của các bên có trong lịch trình bao gồm tất cả các mặt hàng. Các quốc gia thành viên công bố tất cả các sắc thuế và thông tin khác liên quan đến thương mại hàng hóa để đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các công ty lớn có thể tận dụng lợi thế của TPP. Các quốc gia thành viên  cũng đồng ý không áp đặt các yêu cầu bao gồm những điều kiện như tỷ lệ sản xuất của địa phương do một số nước áp đặt mà các công ty cần tuân thủ để có lợi ích thuế quan. Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũng đồng ý không áp đặt các hạn chế và thuế không đồng nhất của WTO đối với nhập khẩu và xuất khẩu, bao gồm cả hàng hóa tái sản xuất – vốn sẽ thúc đẩy việc tái chế các bộ phận thành các sản phẩm mới. Các quốc gia thành viên giữ nguyên các yêu cầu về nhập khẩu hoặc giấy phép xuất khẩu sẽ thông báo cho nhau về các thủ tục để tăng tính minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại. Các quốc gia thành viên sẽ loại bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và chính sách hạn chế khác đối với các sản phẩm nông nghiệp nhằm mục đích tăng cường thương mại nông nghiệp trong khu vực và tăng cường an ninh lương thực. Ngoài loại trừ hoặc cắt giảm thuế quan, các quốc gia thành viên đồng ý thúc đẩy cải cách chính sách, kể cả việc loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp, làm việc cùng nhau trong WTO để xây dựng quy định về doanh nghiệp xuất khẩu thương mại nhà nước , tín dụng xuất khẩu, và giảm thời gian hạn chế xuất khẩu lương thực để cải thiện an ninh lương thực trong khu vực. Các quốc gia thành viên cũng đã đồng ý tăng tính minh bạch và hợp tác trên một số hoạt động liên quan đến công nghệ sinh học nông nghiệp.  

     Đối với lĩnh vực dệt may, các quốc gia thành viên đồng ý xoá bỏ thuế quan đối với hàng dệt và may mặc, các ngành công nghiệp có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế tại thị trường của một số bên. Hầu hết các sắc thuế sẽ được xóa bỏ ngay lập tức, mặc dù thuế đối với một số sản phẩm nhạy cảm sẽ được xóa bỏ trong khung thời gian dài hơn theo thỏa thuận của các thành viên. Hiệp định cũng đề cập tới các quy định cụ thể xuất xứ, trong đó có yêu cầu về việc sử dụng của các loại sợi và vải trong khu vực TPP nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng và đầu tư vào lĩnh vực này trong khu vực nhờ cơ chế áp dụng "danh sách ngắn các nhà cung cấp" cho phép việc sử dụng các loại sợi và vải nhất định vốn không có sẵn trong khu vực... ([22])



[1]Katarzyna Śledziewska: “ Theory of Economic Integration“.

[2] Iván Arribas†, Francisco Pérez‡, Emili Tortosa-Ausina : « Measuring International Economic Integration: Theory and Evidence of Globalization”. 2006.

[3] Teng Delux: ”Essence and phases of international economic integration”.

[4] William J. Kehoe: “Regional and Global Economic Integration: Implications for Global Business”.

[5] Peter Draper: “Rethinking the (European) Foundations of Sub-Saharan African Regional Economic Integration: A political Economy Essay”. OECD. 2010.

[6] Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement.

[7] Ian F. Fergusson: “The Trans-Pacific Partnership Agreement”. Ian F. Fergusson. 2010.

[8] William Krist: “Negotiations for a Trans-Pacific Partnership Agreement”.

[9] Inkyo Cheong:  “Negotiations for the Trans-Pacific Partnership Agreement: Evaluation and Implications for East Asian Regionalism”.

[10] Peter A .Petri and Michael G. Plummer: “The Trans-Pacific Partnership and Asia-Pacific Integration: Policy Implications.

[11] Henry Gao: “Trans-Pacific strategic economic partnership agreement: High standard or missed opportunity

[12] Gong, Baihua: “Trans-Pacific Partnership Agreement and its implications to BRICS Countries”.

[13] Trans-Pacific Partnership (TPP) Agreement Principles.

[14] Alan V. Deardorff: “Trade Implications of the Trans-Pacific Partnership for ASEAN and Other Asian Countries”. 2013.

[15] Wen Jin Yuan: “The Trans-Pacific Partnership and China’s Corresponding Strategies”.

[16] Hirono, K., Gleeson, D., Haigh, F., Harris, P. (2014). The Trans Pacific Partnership Agreement negotiations and the health of Australians: A policy brief

[17] Wyber R, Perry W. The Trans-Pacific Partnership: An analysis of the impact on health in New Zealand.

[18] Ian F. Fergusson, William H. Cooper, Remy Jurenas, Brock R. Williams: “The Trans-Pacific Partnership (TPP) Negotiations and Issues for Congress”

[19] Trans-Pacific Partnership, Intellectual Property Rights Chapter February Draft, tại:http://keionline.org/sites/default/files/tpp-10feb2011-us-text-ipr-chapter.pdf  và Trans-Pacific Partnership, Intellectual Property Rights Chapter September 2011 Draft (Selected Provisions), xem tại: http://www.citizenstrade.org/ctc/wp-content/uploads/2011/10/TransPacificIP1.pdf

[20] Brief on the trans-pacific partnership (TPP): Malaysia’s involvement in free trade agreements

[21] “Leaked copy of the investment chapter for the Trans-Pacific Partnership (TPP) trade agreement”.

[22] Bản Tóm tắt Hiệp định TPP. Bộ Công thương.




Share Post




Một số bài viết khác

- Tương quan giữa nhà nước và thị trường trong vận hành nền kinh tế ở một số nước châu Á: Hàm ý cho Việt Nam - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn, TS. Vũ Xuân Bình

- Định hướng phát triển Logistic Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế - Tác giả: TS. Hoàng Đình Minh, TS. Trương Bảo Thanh, Ths. Nguyễn Quang Minh

- Chính sách tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam - Tác giả: PGS.TS Hoàng Văn Hoan

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988 - 2015: Thực trạng và vấn đề - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường - Góc nhìn từ khu kinh tế Vũng Áng: Nghiên cứu trường hợp khu liên hợp gang thép của tập đoàn FORMOSA - Tác giả: TS. Phí Hùng Cường

- Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam - Tác giả: TS. Hoàng Đình Minh, TS. Trương Bảo Thanh

- Vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Phòng ngừa, khắc phục một số căn bệnh trong tư duy lãnh đạo, quản lý - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn