Chính sách giáo dục của Thụy Điển - Tác giả: TS. Hồ Văn Chiểu

05/08/2015 09:20

CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA THỤY ĐIỂN

Xây dựng thành công xã hội học tập

TS. HỒ VĂN CHIỂU

Theo Thông tin Lý luận số tháng 6 năm 2014

 

       “Thụy Điển là một nước nhỏ nằm ở Bắc Âu, với diện tích 45.000 km2, dân số 9,4 triệu người. Thụy Điển đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển con người. Thu nhập bình quân vào loại cao nhất thế giới (48.896 USD vào năm 2010). Tuổi thọ trung bình là 82. Chỉ số phát triển con người là 0,904, xếp thứ 10 thế giới. Chỉ số bất bình đằng giới: 0,040% - ưu việt nhất thế giới (Theo Tổng cục Thống kê - Niên giám thống kê năm 2011). Một trong những nguyên nhân dẫn tới thành công vang dội đó chính là chính sách giáo dục đúng đắn”.

      Không có một nền giáo dục quy mô hoành tráng như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, song, Thụy Điển lại có nền nền giáo dục tiến bộ vào bậc nhất thế giới, là một nước đi đầu trong việc xây dựng xã hội học tập.

       PHỔ CẬP GIÁO DỤC

     Xét về mặt lịch sử, hệ thống trường học ở Thụy Điển được coi là tốt theo tiêu chuẩn quốc tế. Người Thụy Điển từ giữa thế kỷ XIX đã được coi là “những kẻ nhếch nhác có học”. Trình độ học vấn của họ cao hơn người ta tưởng, nhất là trong tình hình kinh tế của đất nước thời gian đó.

       Đến năm 1842, đa số dân Thụy Điển đã biết chữ. Khi đó, Quốc hội quyết định mỗi giáo khu phải có ít nhất một trường tiểu học công cộng. Đó là bước đầu tiên trong quá trình mở rộng hệ thống giáo dục của Thụy Điển. Năm 1882, Chính phủ quyết định việc dạy và học tại các trường tiểu học cần phải kéo dài 6 năm. Tuy nhiên, mãi đến khoảng năm 1920, công cuộc cải cách này vẫn còn chưa được thực hiện ở tất cả các địa phương. Quy định 7 năm học bắt buộc được thông qua năm 1937 và 9 năm học bắt buộc được thông qua vào năm 1962.

      Hệ thống giáo dục có 3 cấp chính: các trường phổ cập bắt buộc, các trường trung học và hệ thống cao đẳng, trong đó có các trường đại học. Giáo trình học mới trên toàn quốc được đưa ra năm 1994 ở cả 2 cấp phổ cập bắt buộc và trung học. Các thay đổi quan trọng cũng đang diễn ra trong hệ thống cao đẳng.

      Hai giáo trình mới đều bắt đầu bằng lời nói đầu khẳng định một số giá trị làm cơ sở cho hệ thống giáo dục. Những lời nói đầu này nhấn mạnh vai trò của cách nhìn nhận vấn đề một cách dân chủ, nói rằng, dân chủ phải là đặc điểm trong công việc hàng ngày trong các trường học, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chống lại các hiện tượng như không độ lượng với trẻ, có thái độ bài ngoại và quấy nhiễu trẻ.

      Nhiệm vụ của các trường học là truyền thụ kiến thức, nhưng cũng đồng thời phải khuyến khích cách suy nghĩ có tính phê phán và xây dựng. Việc dạy và học phải “không được theo giáo lý của một giáo phái nào”, vì người dân Thụy Điển được hưởng tự do tôn giáo. Tuy nhiên, các trường học phải dựa vào “những đặc điểm của mình được duy trì bằng truyền thống Công giáo và chủ nghĩa nhân đạo Phương Tây”.

      Hầu hết trẻ em Thụy Điển bắt đầu đi học lúc lên 7 tuổi. Rất ít em (trong năm 2004 là 5%) tận dụng cơ hội mới được tạo nên gần đây để bắt đầu đi học lúc 6 tuổi. Ai cũng có quyền đến trường mẫu giáo 1 năm trước khi đến các trường bình thường.

      Cho đến nay, hơn 90% học sinh tiếp tục học lên trung học sau khi học hết 9 năm phổ cập bắt buộc. Người ta cho rằng, con số này sẽ tăng lên, vì số học sinh được tiếp tục nhận vào các trường trung học đã tăng lên, trong khi phạm vi giảng dạy đã khác. Học sinh ở cấp học trước đây thường kéo dài từ 2 đến 4 năm tùy theo lĩnh vực học chuyên, nay chỉ còn 3 năm. Nói cách khác, hệ thống giáo dục 12 năm đã thành quy định.

     Chính phủ và Quốc hội quyết định các mục tiêu trong giáo dục bắt buộc và giáo dục trung học. Nội dung học của mỗi chương trình giáo dục đều giống nhau trên phạm vi cả nước. Mỗi địa phương có tham khảo ý kiến bố mẹ và học sinh, có trách nhiệm bảo đảm là phải đạt được các mục tiêu giáo dục. Cơ quan quốc gia về giáo dục giám sát các địa phương thực hiện nhiệm vụ được giao phó.

       GIÁO DỤC MIỄN PHÍ

      Từ sau Đại chiến thế giới thứ hai, sau một loạt cải cách giáo dục, trường phổ thông cơ sở 9 năm không mất tiền là bắt buộc đối với trẻ em. Các em 7 tuổi phải đến trường, được ăn bữa trưa miễn phí.

      Sinh viên được nhận các khoản học bổng và vay tiền với điều kiện có kết quả học tập tốt. Học bổng thường giúp chi trả khoảng 30% chi phí sinh hoạt cho một năm học 9 tháng. Số tiền còn lại là các khoản vay có thể thanh toán được.

     Sinh viên học sau đại học được nhận các khoản học bổng hoặc tiền trợ giảng trong phạm vi tài chính của các trường đại học và cao đẳng.

     Các địa phương không được phép đòi bất kỳ khoản tiền học phí nào. Tại các trường dạy chương trình giáo dục phổ cập bắt buộc, học sinh được nhận sách giáo khoa và các tài liệu giáo dục khác và cả bữa ăn trưa tại trường không mất tiền.

     Tại trường trung học, không phải là giáo dục phổ cập bắt buộc, các địa phương có quyền tính với học sinh tiền mua tài liệu học và ăn tại trường, nhưng hầu hết các trường đều không lạm dụng việc này.

    Khoảng 2% học sinh thuộc chương trình giáo dục bắt buộc và trung học đi học tại các trường “độc lập” (hoặc của tư nhân). Một số trường như vậy, chẳng hạn như trường Montessori và trường Waldorf, sử dụng các phương pháp sư phạm đặc biệt. Các trường khác do các nhóm thiểu số hoặc tổ chức tôn giáo đứng ra thành lập. Các trường độc lập đã được cơ quan quốc gia về giáo dục chấp thuận, được nhận khoản tiền trợ cấp của Chính phủ tính theo số học sinh tương đương với 75% chi phí trung bình tại các trường công.

     Việc các trường độc lập có thể thu tiền học phí là vấn đề chính trị gây tranh cãi. Chính phủ thuộc những Đảng Dân chủ xã hội thường phản đối việc thu học phí như vậy. Theo truyền thống, họ thường duy trì nguyên tắc là, vì những lý do dân chủ, ai ai cũng cần phải được học như nhau để cho tất cả mọi người đều được hưởng một nền giáo dục có giá trị như nhau.

      CẢI CÁCH GIÁO DỤC

     Hướng cải cách giáo dục ở Thụy Điển nhằm hướng tới một nền giáo dục bình đẳng về cơ hội cho mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời, nội dung và phương pháp giáo dục cần thường xuyên đổi mới cho phù hợp với xu thế của thời đại.

     Theo bản Tuyên bố về ngân sách của Đảng Dân chủ xã hội năm 1995, không nên đánh giá quá cao tầm quan trọng của việc để cho trẻ em và thanh thiếu niên có những kinh nghiệm, cơ sở văn hóa và xã hội khác biệt cùng sống với nhau tại trường. Thông điệp này cũng cảnh báo về hiện tượng co cụm theo nhóm trong hệ thống các trường học, chẳng hạn, tình hình có nhiều trẻ em di cư đến ở tại một số khu ngoại ô nhất định của các thành phố lớn. Vấn đề này không chỉ bị ảnh hưởng bởi những học sinh chuyển đến các trường tư, mà còn do những học sinh chuyển từ trường này sang trường khác trong cùng một địa phương.

       Cho đến nay, khoảng 1/3 học sinh tốt nghiệp trung học tiếp tục học lên hệ cao đẳng. Tỷ lệ này đang tăng lên vì số sinh viên được tiếp nhận tại các trường cao đẳng và đại học tăng vọt trong những năm gần đây.

      Theo thống kê năm 2010, gần 1/3 lực lượng lao động của Thụy Điển ở độ tuổi từ 25 - 64 có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên, trong khi khoảng 4/5 đa tốt nghiệp trung học. Mặc dù khó so sánh trình độ học vấn chung, song nhìn chung, trong các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trình độ học vấn của Thụy Điển thường ở trên mức trung bình.

     Các trường phổ cập giáo dục bắt buộc dạy khoảng 900.000 học sinh, trong đó, gần 100.000 là trẻ di cư, những em mà tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Thụy Điển. Trong đó, 60% trẻ di cư này được dạy ở trường theo tiếng mẹ đẻ của các em.

       Tiếng Anh, nói chung, là ngoại ngữ bắt buộc từ lớp 3, và ở một số địa phương là từ lớp 1. Ngoại ngữ thứ 2 - thường là tiếng Đức, hoặc Pháp, hoặc Tây Ban Nha - bắt buộc học từ lớp 7.

      Năm học ở các trường giáo dục bắt buộc và trung học dài 40 tuần và thường bắt đầu vào khoảng ngày 20 tháng 8. Học kỳ mùa thu kết thúc đúng vào dịp lễ Giáng sinh. Học kỳ Mùa xuân bắt đầu vào khoảng ngày 10 tháng 1 và kéo dài đến đầu tháng 6, có nghỉ lễ Phục sinh và một tuần trong tháng 2 cho các môn thể thao mùa đông.

     Các trường trung học có hơn 300.000 học sinh và hơn 16 chương trình quốc gia để chọn học. Tất cả các chương trình này kéo dài 3 năm và tạo đủ điều kiện cho học sinh học tiếp hệ cao hơn. Hai trong các chương trình đó được coi là hoàn toàn dành cho việc chuẩn bị thi vào cao đẳng. Những chương trình khác gồm hầu hết các lĩnh vực nghề nghiệp. Học sinh cũng có thể phối hợp các môn học để tạo chương trình riêng cho bản thân.

       Tất cả các chương trình có chung một số môn cơ bản, trong đó có Tiếng Anh. Điều này có nghĩa là, hầu hết thanh niên Thụy Điển được học Tiếng Anh, ít nhất là 10 năm. Các ngoại ngữ khác cũng có vị trí quan trọng hơn trước.

      Tinh thần giáo dục là phát triển nhân cách và khả năng lập luận một cách có phê phán. Ngay từ tuổi thiếu niên, các em đã theo các chương trình hướng nghiệp mỗi năm 1-2 tuần. Có em là người nhập cư còn được theo một chương trình bằng tiếng nước họ; có trường phải dạy đến 60 ngôn ngữ khác nhau! Hầu như không có trường tư thục. Mãi đến học kỳ sau lớp 8 mới cho điểm học sinh. Cho điểm hay không hiện còn là vấn đề được thảo luận rất kỹ. Có ý kiến phản đối. Họ lập luận rằng: việc cho điểm làm phát triển đầu óc ganh đua hơn là tính tương trợ. Dù sao, vẫn cứ cho điểm ở các lớp kết thúc trường cơ sở và ở các trường trung học để chọn thí sinh vào đại học.

       90% các em học hết trường cơ sở 9 năm được vào thẳng các trường trung học chuyển hướng vào đào tạo cơ sở nghề nghiệp. Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, thời gian học trung học là 3 năm. Theo điều tra trên phạm vi quốc tế, giáo dục cơ sở và trung học ở Thụy Điển có chất lượng giáo dục tương đối cao. Tuy vậy, ở trong nước vẫn còn nhiều ý kiến phê phán, nhất là trường cơ sở: trình độ chưa đủ, học sinh không chăm, cần kiểm tra hơn nữa, thiếu giáo viên, trường sở và học cụ có phần chưa được hiện đại, mặc dù quỹ giáo dục cao hơn so với nước ngoài.

       PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC SAU ĐẠI HỌC

      Trong những năm gần đây, một số nhà phê bình nói rằng, tỷ lệ người trong lực lượng lao động có trình độ học vấn cao và tổng số sinh viên sau đại học của Thụy Điển đang bị tụt lại so với các nước tiên tiến. Một số nhà quan sát cho rằng, Thụy Điển ở dưới mức trung bình của các nước OECD về tỷ lệ lao động được đào tạo tiên tiến trong ngành cơ khí và khoa học tự nhiên.

      Đây là một lý do giải thích vì sao các trường đại học và cao đẳng này đang mở rộng danh sách tiếp nhận sinh viên, còn giáo dục sau đại học và công tác nghiên cứu đang được ưu tiên. Nhu cầu nghiên cứu và phát triển tăng hơn trong những năm gần đây, vì cạnh tranh của các nước khác nhau ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, ở Thụy Điển hiện đang có những nỗ lực đáng kể trong việc khuyến khích đào tạo nghiên cứu sinh kỹ thuật và có hợp tác với khu vực kinh doanh.

      Năm 1993, Chính phủ không thuộc Đảng Xã hội lúc đó tuyên bố rằng, mục tiêu của Chính phủ là đến năm 2000 sẽ tăng gấp đôi số sinh viên sau đại học. Chính phủ của Đảng Dân chủ xã hội lên cầm quyền năm 1994 cũng thể hiện tham vọng to lớn là muốn tăng số phụ nữ trên các cương vị lãnh đạo trong giới nghiên cứu, nhờ đó tận dụng được nguồn nhân tài phụ nữ chưa khai thác.

      Ngày nay, giáo dục sau đại học thực hiện ở các trường đại học tổng hợp và các trường cao học khác, những cơ sở được giao phó chức năng đào tạo sau đại học trong một số lĩnh vực. Giáo dục sau đại học kéo dài 4 năm và sẽ cấp bằng tiến sĩ. Để được cấp những chứng chỉ hành nghề cần học 2 năm sau đại học.

      Sự cố gắng của Chính phủ nhằm tổ chức đào tạo sau đại học còn thể hiện qua sự đầu tư hàng trăm triệu Curon hàng năm vào 16 cơ sở đào tạo (hay còn gọi là trường đào tạo nghiên cứu sinh). Mục đích của các trường này là xúc tiến việc tìm kiếm các nhà nghiên cứu trẻ, phát triển sự nghiệp đào tạo sau đại học và thúc đẩy sự tương tác giữa các cơ sở giáo dục cao hơn nữa.

      Hệ cao đẳng và đại học. Hàng năm, gần 300.000 sinh viên đã đăng ký vào các trường đại học và cao đẳng của Thụy Điển, hầu hết các trường này là của Chính phủ. Con số này đã tăng đáng kể so với con số 200.000 của 10 năm trước. 60% số sinh viên là nữ. Trong số sinh viên và nghiên cứu sinh sau đại học thì nữ chiếm 35%.

     Sinh viên hiện nay được tự do hơn trong việc lựa chọn các môn trong chương trình đại học của mình và việc phối hợp các môn một cách bắt buộc trước đây đã bị xóa bỏ. Việc học tập của sinh viên có thể đem lại các bằng cấp và chứng chỉ khác nhau. Hầu hết sinh viên cần 2 đến 4 năm mới hoàn thành chương trình học đại học và cao đẳng.

     Việc Chính phủ tài trợ kinh phí cho nghiên cứu khoa học trong các trường đại học tổng hợp và các trường cao học làm cho Thụy Điển có vị trí đặc biệt khi so sánh với các nước khác. Ngày nay, ở Thụy điển có 13 trường đại học tổng hợp thuộc sở hữu nhà nước và các viện cao học cũng thuộc nhà nước (trường đại học, viện công nghệ, các trường chuyên nghiệp,...). Hơn nữa, có một số viện cao học thuộc sở hữu của các tổ chức.

      Từ năm 1997, tất cả các trường đại học tổng hợp và các viện cao học khác nhận được nguồn kinh phí nghiên cứu thường xuyên. Một trong những lý do là để cho các giảng viên, tất cả các học viên của tất cả các học viện có cơ hội theo dõi nghiên cứu và như thế tức là tăng cường mối quan hệ giữa công tác nghiên cứu và ngành cao học. Lý do khác là để làm cho tất cả các học viện trở thành những cộng tác viên cộng tác chặt chẽ với khu vực kinh doanh. Ngoài giáo dục và nghiên cứu, kiểu cộng tác như thế này nằm trong số các nhiệm vụ của hệ thống cao học.

       Chính sách giáo dục của Thụy Điển còn có các vấn đề quan trọng sau:

      Giáo dục người lớn tuổi. Trong bối cảnh các lĩnh vực xã hội khác nhau, nhất là trong bối cảnh khoa học, kỹ thuật thay đổi khá nhanh, hệ thống giáo dục của Thụy Điển rất chú trọng đến giáo dục người lớn tuổi, hay còn gọi là “ học tập suốt đời”.

       Người lớn tuổi đa từng đi học một thời gian ngắn, hoặc học kém trong chương trình phổ cập, bắt buộc có cơ hội bổ sung thêm kiến thức của mình ở hai cấp: phổ cập bắt buộc và trung học, tại các trường dành cho người lớn tuổi ở các địa phương. Những người thất nghiệp có thể được đào tạo trực tiếp cung ứng cho thị trường lao động.

      Các hiệp hội giáo dục người lớn tuổi. Các tổ chức này có các chương trình quy mô lớn, chủ yếu là vào buổi tối. Các tổ chức này kết hợp với những chính đảng, tổ chức phong trào vận động hạn chế rượu mạnh và các giáo phái tôn giáo. Trong các năm 1993-1994, những hiệp hội này tổ chức được khoảng 330.000 nhóm học với tổng số 2,8 triệu người tham gia. Một nhóm học - là một nhóm học một môn, hoặc vấn đề nào đó với sự giúp đỡ của người đứng đầu nhóm - có thể lựa chọn rất nhiều chủ đề khác nhau. Một số nhóm học tập trung vào các hoạt động văn học nghệ thuật. Nhiều nhóm chỉ nhằm tăng cường kiến thức, ví dụ như dạy ngoại ngữ.

      Với những thành tựu nói trên, nền giáo dục Thụy Điển đã góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm cho Thụy Điển trở thành một nước đi tiên phong trong việc xây dựng thành công một xã hội học tập, mô hình xã hội của nhân loại trong thế kỷ XXI.

 

 




Share Post




Một số bài viết khác

- Tương quan giữa nhà nước và thị trường trong vận hành nền kinh tế ở một số nước châu Á: Hàm ý cho Việt Nam - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn, TS. Vũ Xuân Bình

- Định hướng phát triển Logistic Việt Nam từ kinh nghiệm quốc tế - Tác giả: TS. Hoàng Đình Minh, TS. Trương Bảo Thanh, Ths. Nguyễn Quang Minh

- Chính sách tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam - Tác giả: PGS.TS Hoàng Văn Hoan

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 1988 - 2015: Thực trạng và vấn đề - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Phát triển công nghiệp đi đôi với bảo vệ môi trường - Góc nhìn từ khu kinh tế Vũng Áng: Nghiên cứu trường hợp khu liên hợp gang thép của tập đoàn FORMOSA - Tác giả: TS. Phí Hùng Cường

- Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam - Tác giả: TS. Hoàng Đình Minh, TS. Trương Bảo Thanh

- Vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay - Tác giả: Ngô Quang Trung

- Phòng ngừa, khắc phục một số căn bệnh trong tư duy lãnh đạo, quản lý - Tác giả: PGS.TS. Đoàn Minh Huấn